Ảnh

Ảnh

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2015

Xem "năm sinh", xem "hướng nhà", xem "số đo cửa", là bởi vì đâu?

(mến tặng các đồng nghiệp)

1/ Khởi nguồn từ một quyển sách Bói

Kinh Dịch - một sách dùng để Bói toán, nguồn gốc của nó có thể từ cuối đời Ân, 1.200 năm trước Tây Lịch. Sách không do một người viết mà do nhiều người góp sức trong một ngàn năm, từ Văn Vương nhà Chu mãi đến đầu đời Tây Hán nó mới có hình thức gần như hình thức ngày nay chúng ta được biết. Từ xưa đến nay, trên 2.000 năm, thời nào cũng có người tìm hiểu nó thêm, đem ý riêng của mình và tư tưởng của thời đại chiếu vào nó, khiến cho ý nghĩa và công dụng của nó mỗi ngày một nhiều và một xa nguồn gốc ban đầu.

Mới đầu nó chỉ là sách bói, tới cuối đời Chu thành một sách triết lý tổng hợp những tư tưởng về vũ trụ quan, nhân sinh quan của dân tộc Trung Hoa thời Tiên Tần; qua đời Hán nó bắt đầu có màu sắc tượng số học, muốn giải thích vũ trụ bằng biểu tượng và số mục, tới đời Ngũ Đại nó được dùng trong môn lý số, đời Tống nó thành lý học.

Môn "dịch học" dựa trên thuyết âm dương , trên một vạch liền __ tượng trưng cho dương, một vạch đứt _ _ tượng trưng cho âm, hai vạch đó chồng lên nhau, đổi lẫn cho nhau nhiều lần thành ra tám hình bát quái, rồi tám hình bát quái này lại chồng lẫn lên nhau thành sáu mươi bốn hình mới: Lục thập tứ quái . Dùng sáu mươi bốn hình này, người Trung Hoa diễn được tất cả các quan niệm về vũ trụ, về nhân sinh, từ những hiện tượng trên trời dưới đất, những luật thiên nhiên tới những đồ dùng, những công việc thường ngày như trị nước, ra quân, trị nhà, cưới hỏi, ăn uống , xử thế...

Vì dịch học chỉ xây dựng trên 64 quẻ do hai vạch âm, dương chồng lên nhau, đổi chỗ cho nhau ba bốn lần mà thành, cho nên nó có một sức hấp dẫn lạ lùng, ai cũng tò mò muốn biết, mà những người có óc tưởng tượng dồi dào có thể dễ dàng cho mỗi quẻ một ý nghĩa mới, giảng mỗi quẻ theo vũ trụ quan, nhân sinh quan của mình, ý nghĩa đó càng huyền bí thì lại càng có vẻ thâm thúy,; do đó mà không một danh nho nào từ đời Hán đền đời Thanh không tìm hiểu Kinh dịch, hiệu đính, chú thích và một số đã tạo cho nó một nội dung mới khác xa nội dung thời Văn Vương, Chu Công. Nó gần thành một thứ khoa học biến hoá theo thời đại.

2/ Dịch học sinh ra Tử Vi đẩu số

Đời Bắc Tống, một đạo sĩ tên là Trần Đoàn, hiệu là Hi Di, sáng tác “dịch đồ” cho rằng bát quái gốc ở Hà Đồ, đưa dịch học vào một nẻo mới, nẻo thuật số (tức thuật đoán số mạng).

Ông đặt ra môn Bát tự Hà Lạc và Tử vi đẩu số chuyển can chi của ngày tháng, năm sinh thành những con số rồi chuyển số thành quẻ, để đoán vận mạng con người. Sau này môn Tử vi đẩu số phát triển mạnh, lan truyền trong nhân gian

3/ Dịch học kết hợp với môn Phong Thủy

Trần Đoàn còn đem Dịch học kết hợp chặt chẽ với với Môn Phong thủy, là một thuyết chuyên nghiên cứu sự ảnh hưởng của địa thế, hướng gió, mạch nước, vị trí mồ mả, bố cục kiến trúc đến đời sống hoạ phúc của con người.

Sự kết hợp Dịch lý (Bát quái) và Tử vi đầu số ( năm sinh) với hướng Nhà, hướng cửa làm phát sinh thêm các phái Bát Trạch, Huyền Không,... Làm cho Dịch lý và môn Phong thủy càng thêm màu sắc huyền bí. Ngoài ra, Phong thủy còn tuân theo nguyên tắc Ngũ hành, thâm chí là Sinh, Lão, Bệnh, Tử (Phật giáo?) , và một số nguyên tắc dân gian khác khiến cho sự diễn dịch của các "Thầy" càng thêm rắc rối.

4/ Riêng về cửa, phải theo Cụ Lỗ Bang

Cụ Lỗ Ban tương tuyền sống ở nước Lỗ vào thời Xuân Thu. Cụ giỏi nghề mộc đến mức thành thánh nhân. Sau khi cụ tịch ko viết lại sách gì, chỉ để lại vài dụng cụ truyền cho đệ tử, trong đó quý nhất là cây thước Lỗ Ban. Trong đấy cụ có Note sẵn những con số được xem là tốt, có ích, đem lại trật sự, hài hòa và phát triển.

Người Trung Quốc thờ cúng Lỗ Ban (nên có giỗ Tổ nghê mộc) và hay nhờ cụ độ giúp cho thành đạt trong công việc. Cách hay nhất và dễ theo nhất là cứ áp dụng các con số trong Thước tương truyền do cụ để lại.

Thước nguyên thủy có chiều dài khoảng 42,9 cm. Hiện nay các loại thước dây Xây dựng đều in kèm số Lỗ Ban (màu đỏ) như vậy, suốt chiều dài cây thước kéo, loại 5 mét chẳng hạn, chỉ là một sự lập đi lập lại hơn 11 cây thước Lỗ Ban. Dùng Lỗ Ban thì phải lưu ý hàng dưới dùng đo Mặt đất (Thổ), mặt trên dùng do Bếp, cửa này nọ (Mộc).

4/ Phong thủy ứng dụng: dùng như thế nào?

Theo quy tắc : theo các Nội dung cơ bản đã dẫn ở trên. Bất quy tắc : cứ làm ngược lại.

Thật vậy, ngày nay khi thực hành Môn Phong thủy, ta thường xuyên bắt gặp trường hợp 2 thầy Phong thủy cho hướng dẫn trái ngược nhau 180'. Bởi vì nội dung của môn Phong Thủy quá rộng, sự hướng dẫn tùy theo từng trường phái, tùy thuộc các "Thầy" dùng sách nào để áp dụng.

Một trường hợp là xét phong thủy của Căn hộ chung cư, ở đây bắt gặp sự lúng túng. Vì Căn hộ nằm ở tầng cao (có khi rất cao) trên mặt đất, nếu áp dụng các quy tắc xưa dùng cho địa thế hướng đất của nhà e rằng không ổn.

Một ví dụ khác là quy tắc xếp số bậc Thang theo Sinh- lão- bệnh- tử có công thức (4xn+1) nhưng nếu xét từng vế Thang cho từng sàn thì đúng nhưng dùng cho Tổng số bậc thang trong cả Nhà thì sai.


Khi áp dụng Lý số vào Phong thủy cũng vậy, xem ngày tháng năm sinh cho gia chủ. Nhưng gia chủ có khi là một người (chồng hoặc vợ), có khi cả chồng lẫn vợ, hoặc có khi phải xét ngày tháng năm sinh của cả đại gia đình (?).

Xem địa thế đất, hướng nhà, hướng của cũng tùy... Ngày xưa các cụ xây nhà trên khu đất rộng , có tầm nhìn ra núi, ra sông. Ngày nay nhà xếp theo quy hoạch, nhà trong hẻm, nhà phân lô bán sẵn,... nếu cứ quay hướng Cửa, hướng giường, hướng bếp theo quy tắc nhiều trường hợp hoàn toàn bất ổn về mặt công năng sử dụng.

Rắc rối như thế, nhưng ở trên là những ví dụ ứng dụng theo quy tắc Dịch lý, trong thực tế còn rất nhiều quy tắc theo kiểu truyền miệng. Kiểu này thường là kiểu khó đỡ nhất. Ví dụ như hình ảnh lan truyền trên mạng về Cổng nhà giống chữ "L ngược" trong vụ án Bình Phước gần đây. Được lý giải rằng chữ "L ngược" giống hình ảnh cái Liềm treo ngay cổng vào, chủ nhà tất bị mạng vong. Dân mạng muốn câu view, tăng like nên truyền nhau Share thông điệp trên mà không biết rằng việc ấy khiến rất nhiều KTS phải khốn khổ vì phải chỉnh sửa thiết kế gấp vì tâm lý lo sợ của chủ đầu tư. Thậm chí công trình đang xây mà có chi tiết nào giống chữ "L", dù không ngược cũng phải đập bỏ, chỉnh sửa.

Vậy thái độ của ta nên thế nào cho phải phép. Đâu là Cơ sở khoa học, đâu là truyền thống dân gian, đâu là mê tín. Ông bà ta có câu : "có thờ có Thiêng, có Kiêng ắt có lành", nghe hơi ba phải nhưng thực tế cuộc sống đôi khi người ta chỉ cần như vậy là đủ.







Thứ Ba, 1 tháng 12, 2015

NHẠC LÝ CĂN BẢN VỀ NHỊP

SAU ĐÂY LÀ 4 BÀI NHẠC LÝ CĂN BẢN VỀ NHỊP

A. Nhịp và phách trong bản đàn


1. Nhịp: 
– Nhịp (quan trọng nhất): là phần trường độ gồm những chữ đàn (nốt nhạc) hay dấu lặng được phân chia đều nhau trong một bản nhạc (còn gọi là trường canh).
2. Phách:
– Trong một nhịp lại chia thành các quãng thời gian đều nhau gọi là phách.
B. Khái niệm về nhịp và phách

Khi chúng ta học đàn, ngoài việc thành thục các bài bản thì việc xác định được nhịp và phách là việc hết sức quan trọng. Bởi vì nếu chúng ta đã thành thục về các bài bản nhưng chúng ta xác định nhịp và phách chưa được thì khi đi chơi đàn ca (hoà tấu hoặc đệm đàn cho người khác ca) vẫn còn lọt chọt (chinh nhịp). Giới đàn ca gọi là rớt nhịp, yếu nhịp, chưa chắc nhịp, chưa vững nhịp v.v…
Vậy để giải quyết tình trạng này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu nhịp và phách là gì.

Nhịp là gì?
Khi các chúng nghe một bản đàn hay một bàicat, chúng ta thường thấy bản đàn hay bài ca đó vang lên với một khoảng thời gian đều đều nhau. Khoảng thời gian đều nhau đó gọi là nhịp mà nhạc lý còn gọi là trường canh (tempo).
Để phân biệt nhịp này với nhịp kia người ta dùng một vạch thẳng đứng trên khuông nhạc gọi là vạch nhịp.
- Khoảng cách giữa 2 vạch nhịp gọi là ô nhịp hoặc nhịp trường canh.
- Khi kết thúc 1 đoạn nhạc hay thay đổi khoá nhạc, thay đổi nhịp, người ta dùng 2 vạch nhịp, gọi là vạch kép.
- Chấm dứt bài nhạc người ta dùng vạch kết thúc bao gồm 1 vạch bình thường và 1 vạch đậm hơn ở phía ngoài.











Phách là gì?
Trong mỗi nhịp (ô nhịp hay nhịp trường canh) lại chia ra nhiều quãng thời gian đều nhau nhỏ hơn gọi là phách.
Mỗi nhịp đều có phách mạnh, phách nhẹ. Phách mạnh bao giờ cũng nằm ở đầu ô nhịp. Nhờ có phách mạnh, phách nhẹ ta mới phân biệt được các loại nhịp khác nhau.
Số lượng phách trong mỗi ô nhịp tuỳ thuộc vào số chỉ nhịp.
Phách có thể chia ra làm nhiều phần nhỏ hơn một nốt nhạc hoặc có thể có nhiều phách trong một hình nốt nhạc.



Nguyên tắc xác định phách như sau:

C. Nốt nhạc và các giá trị trường độ

* Nốt nhạc có hai phần:

– Thân nốt nhạc là một hình tròn rỗng hoặc đặc ruột. Phần này để xác định vị trí cao độ của âm thanh.
– Đuôi và dấu móc của nốt nhạc: Đuôi nốt nhạc là một vạch thẳng đứng, phần này để xác định độ dài khác nhau của âm thanh, đuôi nốt nhạc có thể quay lên hoặc quay xuống. Dấu móc luôn nằm ở bên phải của đuôi nốt.
* Hình nốt và giá trị độ dài tương đối giữa các hình nốt:


Trường độ của các nốt không có giá trị thời gian nhất định. Vì vậy, nốt nhạc chỉ biểu hiện mối tương quan về thời gian trong điều kiện cùng một tốc độ chuyển động.Trong trường hợp có tốc đô chuyển động khác nhau, giá trị thời gian thực tế của các nốt nhạc không theo đúng tương quan bình thường giữa chúng với nhau nữa. Không có giá trị tuyệt đối về thời lượng, đó là tính tương đối của các giá trị trường độ.
Nói riêng trong phạm vi cổ nhạc (tài tử và cải lương), với các trường canh cấp điệu, trung điệu (còn gọi bình điệu), hoãn điệu... thì giá trị trường độ của nốt nhạc trong 3 loại trường canh đó có thời lượng khác nhau. Đại khái là trường độ hoãn điệu chậm gấp đôi trường độ trung điệu, trường độ trung điệu chậm gấp đôi trường canh cấp điệu.
Tên gọi các dấu lặng:Theo thứ tự từ trái sang phải, tên gọi của các dấu lặng như sau:
Dấu Hạ - Dấu Thượng - Dấu Ngắt - Dấu Ngưng - Dấu Ngưng Đôi - Dấu Ngưng Ba - Dấu Ngưng Bốn. 

Giá trị tương đương


Dấu Hạ = Dấu Tròn 
Dấu Thượng = Dấu Trắng 
Dấu Ngắt = Dấu Đen 
Dấu Ngưng = Dấu Móc Chiếc (Móc Đơn)
Dấu Ngưng Đôi = Dấu Móc Đôi 
Dấu Ngưng Ba = Dấu Móc Ba 
Dấu Ngưng Bốn = Dấu Móc Bốn 

Trong cổ nhạc (tài tử, cải lương), dấu lặng là nhừ̃ng chỗ nhịp chẻ và nhịp ngoại (tức là chỗ bỏ trống chữ đàn, gọi là nhịp trống). Nhịp chẻ trong cổ nhạc, bên tân nhạc gọi là nhịp chỏi.

Đối chiếu giá trị tương đương


Bốn bài nhạc lý căn bản trên đây cũng được ứng dụng trong cổ nhạc (tài tử và cải lương) để tính nhịp và phách cho tiết tấu từng bản đàn phức tạp.

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

Tạo hình nhân vật 'Tam quốc'



Bên trái là phiên bản 1994, bên phải là phiên bản 2010





Tào Tháo của Bào Quốc An (trái) và Lưu Kiến Bân (phải)



Lưu Bị của Tôn Nhan Quân (trái) và Vu Hòa Bình (phải)



Quan Vũ của Lục Thụ Minh (trái) và Vu Vinh Quang



Trương Phi bản cũ và mới



Lã Bố của Trương Quang Bắc (trái) và Hà Nhuận Đông (phải)






Chu Du của Hồng Vũ Trụ (trái) và Huỳnh Duy Đức (phải)



Đổng Trác của Lý Pha (trái) và Lã Tiểu Hòa (phải)



Triệu Vân của Trương Sơn (trái) và Nhiếp Viễn (phải)



Tôn Quyền của Ngô Hiểu Đông (trái) và Trương Bác (phải)



Gia Cát Lượng của Đường Quốc Cường (trái) và Lục Nghị (phải)



Điêu Thuyền của Trần Hồng (trái) và Trần Hảo (phải)



Đại Kiều



Tiểu Kiều của Hà Thanh (trái) và Triệu Kha (phải)



Tôn Thượng Hương của Triệu Việt (trái) và Lâm Tâm Như (phải)

Thứ Ba, 13 tháng 5, 2014

Vì sao Trung Quốc thiết lập giàn khoan trong vùng biển Việt Nam? Vì sao là lúc này và vì sao Việt Nam?

Hạm đội Nam Hải của TQ

Hạm đội Nam Hải của TQ
Đàm Hà Khánh dịch từ The Diplomat

Với ai, cái gì, ở đâu, khi nào và như thế nào, việc giàn khoan dầu Trung Quốc HD-981 thâm nhập vào vùng biển Việt Nam đã được đề cập một cách toàn diện, từ những nhà bình luận ở đây tại tạp chí The Diplomat và những nơi khác. Câu hỏi xuyên suốt đặt ra là, với liên tục những hành động khiêu khích của Trung Quốc trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, lý do là tại sao? Sự ẩn khuất trong những quyết định nội bộ của Trung Quốc gây khó khăn để trả lời câu hỏi đó, nhưng một số lượng những bằng chứng hiện hữu cho thấy cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu với Việt Nam được đưa ra nhằm kiểm tra dũng khí của các nước ASEAN và Hoa Kỳ. Nó cung cấp cho Bắc Kinh một cơ hội để đánh giá phản ứng quốc tế để Trung Quốc xác quyết chủ quyền lãnh thổ trên biển của mình

Như Carl Thayer đã chỉ ra trên trang này cũng như M. Taylor Fravel cho biết trong cuộc phỏng vấn với The New York Times, quyết định của Công ty dầu khí viễn dương quốc gia Trung Quốc di chuyển giàn khoan dầu HD-981 là một bước đi có chủ ý nhằm khẳng định chủ quyền lãnh thổ. CNOOC có thể là một doanh nghiệp nhà nước nhưng quyết định di chuyển khối tài sản 1 tỷ USD này vào một khu vực có trữ lượng dầu khí chưa rõ ràng trong khi chắc chắn kích động một cuộc khủng hoảng ngoại giao với các kịch bản địa chính trị của động thái này. Thực tế là khoảng 80 tàu hải quân và tàu bảo vệ bờ biển Trung Quốc đi kèm với giàn khoan củng cố quan điểm cho rằng Trung Quốc đã thực hiện một chiến lược tiến tới mục tiêu khẳng định chủ quyền lãnh thổ trong khu vực.

Câu hỏi tại sao Trung Quốc đã chọn riêng Việt Nam để leo thang có lẽ dễ trả lời hơn một chút. Một số nhà phân tích đã lưu ý rằng Trung Quốc gây bất ngờ với thế giới bằng cách chọn leo thang tranh chấp lãnh thổ với Việt Nam trong lúc quan hệ giữa hai nước đã được cải thiện, gần đây nhất là vào mùa thu năm 2013. Ngoài ra, tồn tại một mức độ nhất định của tình đồng chí giữa Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) và Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Đối với Trung Quốc, đột ngột mạo hiểm một mối quan hệ song phương tương đối ổn định thông qua một sự cạnh tranh tiềm ẩn có vẻ trắng trợn và vô trách nhiệm.

Ngược lại, nếu Trung Quốc phải thúc đẩy bất kỳ tranh chấp nào ở Biển Đông để kiểm tra dũng khí của Hoa Kỳ và các nước ASEAN, Việt Nam có lẽ là ứng cử viên phù hợp nhất. Như Tường Vũ nói với tờ New York Times, một cuộc tranh luận chính trị tồn tại ở Việt Nam về việc nước này nên duy trì gần gũi với Trung Quốc hoặc theo đuổi các mối quan hệ mật thiết hơn với phương tây, và với ảnh hưởng của phe cựu trào có trọng lượng đáng kể hơn. Biết rõ thái độ này, Trung Quốc đánh bạc với một mức độ khá tự tin rằng mặc dù giàn khoan dầu là hành động khiêu khích, Việt Nam chỉ sẽ đáp trả bằng lời nói và giữ giới hạn - không vũ lực.

Với mục đích này, tàu bảo vệ bờ biển Trung Quốc chỉ đâm vào tàu Việt Nam và bắn họ bằng vòi rồng - PLAN vẫn duy trì chức năng hỗ trợ, đảm bảo rằng bất cứ động cưỡng bức nào đã được sử dụng đều không có nguồn gốc rõ ràng từ tàu quân sự (mặc dù Việt Nam không hoàn toàn đồng ý cách giải thích này). Hơn nữa, trước khi Trung Quốc có thể bắt đầu thử vận ​​may của mình với các đồng minh của Mỹ trong khu vực, chẳng hạn Philippines, nước mà gần đây đã ký một thỏa thuận mười năm chia sẻ cơ sở quốc phòng với Hoa Kỳ, nó phải xem Hoa Kỳ có sẵn sàng bảo vệ lợi ích của mình trong khu vực.

Trong khi với Philippines, Hàn Quốc, và Nhật Bản Hoa Kỳ có hiệp ước ràng buộc để hành động, trong trường hợp tranh chấp khác trong Biển Đông, đặc biệt là tranh chấp quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc, tất cả những gì nước Mỹ đã hành động chứng tỏ rằng họ sẵn sàng đứng lên vì lợi ích của chính họ đã được xác định trong quá khứ, bao gồm tự do hàng hải, giải quyết hòa bình tất cả các cuộc xung đột, và không sử dụng cưỡng chế và đe dọa trong tranh chấp. Với vụ HD-981, Trung Quốc đã thách thức Mỹ trên cả ba. Ngoài ra, với lợi ích của Exxon Mobil ở các vùng biển, HD-981 cũng cản trở lợi ích thương mại của Mỹ trong khu vực. Cho đến nay, phản ứng của Hoa Kỳ - một tuyên bố kêu gọi hành vi của Trung Quốc là "khiêu khích" - thực sự không đủ trọng lượng để Trung Quốc dừng các hành vi như vậy trong tương lai.

Cuối cùng, Trung Quốc đã tính toán thời gian để thực hiện động thái này ngay khi Tổng thống Mỹ Barack Obama vừa rời châu Á và ngay trước cuộc họp của lãnh đão ASEAN tại Naypyidaw, Myanmar cuối tuần qua. Làm như vậy, Trung Quốc đã mạo hiểm: động thái chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của quốc tế lớn và bị lên án. Tuy nhiên, như các báo cáo tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN cho thấy, Trung Quốc vẫn có một sự đảm bảo rằng các nhà lãnh đạo khu vực không được kết chặt đầy đủ để hình thành một mặt trận chung chống lại sự ép buộc của Trung Quốc ở Biển Đông. Trong khi đó đáng chú ý là các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đã ra một tuyên bố riêng biệt, "quốc tế hóa" các tranh chấp trong khi cho rằng mối nguy từ hành động của Trung Quốc vẫn chưa quá giới hạn ( và có lẽ trong tương lai gần)

Tương tự như vậy, đối với một Hoa Kỳ suy sụp, mệt mỏi và không đủ khả năng tài chính cho vai trò cảnh sát toàn cầu, thất bại tại giàn khoan dầu này nằm trong dây chuyền của cuộc khủng hoảng toàn cầu như tại Syria và Ukraina - chỉ cần khác mức độ khẩn cấp chính trị. Bằng cách tránh một đồng minh có hiệp ước hoặc đối tác chính của Mỹ, Trung Quốc tìm cách tô vẽ Mỹ như là một thế lực không thể khẳng định lợi ích của mình trong khu vực. Một hệ quả tiêu cực của việc này là các quốc gia khác tham gia vào tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc sẽ tìm cách đơn phương quân sự hóa để bù đắp sự phụ thuộc vào đảm bảo an ninh của Mỹ, có khả năng tạo ra một viễn cảnh nhức đầu cho Trung Quốc sau này trong tương lai.

Quyết định di chuyển giàn khoan dầu HD-981 vào vùng biển tranh chấp phù hợp với quyết định của Trung Quốc áp đặt khu vực nhận diện phòng không (ADIZ) trên Biển Hoa Đông cho thấy tín hiệu về tham vọng của Trung Quốc trong việc đơn phương theo đuổi yêu sách lãnh thổ trên biển của mình. Trung Quốc nói rằng các giàn khoan dầu sẽ vẫn ở vùng biển này cho đến tháng Tám năm nay. Rốt cuộc điều khác biệt duy nhất trong khủng hoảng lần này là việc lần đầu tiên Trung Quốc thiết lập món tài sản đắt tiền này trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của nước khác. Và Việt Nam không phải là một quốc gia dễ xơi - nó có năng lực hải quân ở mức độ vừa đủ có thể dẫn đến một cuộc ẩu đả có vũ trang với Trung Quốc. Nhìn chung, trong sáu tháng qua, chúng ta đã thấy Trung Quốc trở nên quyết đoán hơn bao giờ hết trong việc theo đuổi tuyên bố của mình, và cho thời điểm này, nó đang thành công.

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Những khẩu súng trường tấn công hàng đầu

Súng trường tấn công (Assault rifles) là loại vũ khí cực kỳ nguy hiểm, với khả năng sát thương lớn, độ chính xác cao và tốc độ bắn nhanh. Súng trường tấn công thực sự đã làm thay đổi cách chiến đấu thông thường của bộ binh và trở thành loại vũ khí hiệu quả nhất được sử dụng. Với sự chạy đua vũ trang, các quốc gia cũng không ngừng nghiên cứu và phát triển những loại súng trường tấn công hiện đại nhất, trang bị công nghệ cao và tăng khả năng sát thương. Trong loạt bài này chúng ta sẽ điểm qua những khẩu súng trường tấn công hàng đầu thế giới từ trước đến nay.

M16

Được chế tạo bởi Mỹ vào năm 1963 và vẫn được sử dụng cho đến nay. Nó đã được sử dụng trong chiến tranh Vùng Vịnh, chiến tranh Việt Nam , Iraq , Afghanistan và nhiều cuộc chiến khác. Có ba phiên bản khác nhau trong qua trình sản xuất súng M16. Phiên bản đầu tiên: M16 và M16A1, sử dụng trong thập niên 1960, bắn đạn M193/M196 (hoặc .223 Remington), có thể bắn hoàn toàn tự động hay bán tự động, và hai mẫu XM16E1 và M16A1 đồng lọat được sử dụng ở chiến trường Việt Nam. Phiên bản tiếp theo là M16A2, thập niên 1980, bắn đạn M855/M856 (do Bỉ sáng chế sử dụng cho trung liên FN Minimi), có khả năng bắn từng viên hay bắn từng loạt 3 viên. Phiên bản mới nhất hiện nay là M16A4, súng trường tiêu chuẩn của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong chiến tranh Iraq.



M16 nhẹ (3–4 kg), các phần làm bằng thép, hợp kim, nhôm và nhựa cứng (sợi thủy tinh hoặc polymer), sử dụng kỹ thuật giảm nhiệt bằng hơi, tác động lên cò bằng khí ép, đạn nạp từ băng tiếp đạn với cơ cấu khóa nòng xoay, sử dụng loại đạn 5,56×45mm NATO, bằng đạn 20-30 viên tiêu chuẩn. Tốc độ bắn 700-900 viên/phút với tầm bắn hiệu quả dưới 500m.

M16 nổi tiếng là khẩu súng trường tấn công có tốc độ bắn cao, mặc dù hỏa lực không mạnh nhưng lính hoạt và có tính cơ động cao. M16 cũng là một trong những khẩu súng trường tấn công được sử dụng rộng rãi nhất không chỉ bởi quân đội Mỹ. Sau khi được cải tiến khá nhiều, M16 đã trở thành một trong những khẩu súng trường tấn công tốt nhất thế giới, với khả năng trang bị ống phóng lựu 40mm dưới nòng súng và băng đạn nâng cấp 90,100 và 120 viên.

AK47

Là một trong những khẩu súng trường tấn công đầu tiên, và nhanh chóng trở thành một huyền thoại nhờ độ hiệu quả rất cao. Được chế tạo bởi Liên Xô vào năm 1949, tính đến nay đã có khoảng 75 triệu chiếc được sản xuất, được sử dụng bởi quân đội hơn 50 quốc gia cùng các lực lượng vũ trang, du kích trên toàn thế giới.





AK47 có trọng lượng khoảng 4,3 kg, sử dụng đạn 7,62x39 mm M43, tốc độ bắn 600 viên/phút với băng đạn 30 viên tiêu chuẩn. Lỗ trích khí ngang 1/3 nòng súng tính từ ngoài vào Hệ thống thoi đẩy (pít-tông) liền khối với khóa nòng. Búa đập quay, có lẫy hãm để bắn từng viên. Tầm bắn hiệu quả khoảng 400m, ở chế độ bắn từng viên một tầm bắn xa nhất có thể lên tới 800m. AK47 hiện tại có rất nhiều phiên bản khác nhau. Biến thể mới nhất là AK-12 với nhiều tính năng tiên tiến trong khi vẫn có được độ tin cậy cao, dự kiến sẽ được trang bị cho quân đội Nga từ năm 2014.






Chi phí thấp, độ tin cậy, và hiệu quả rất cao trong điều kiện chiến đấu không tiêu chuẩn của loại súng này làm cho nó trở thành loại vũ khí cá nhân thông dụng nhất thế giới. AK47 có độ chính xác không cao khi bắn liên thanh, độ giật cao và độ chụm của hỏa lực tản mát khá nhiều. Mặc dù vậy khi bắn từng viên lại khá chính xác, hỏa lực rất mạnh, có khả năng xuyên phá 1 bức tường 20 cm.

FN FNC

Mẫu súng trường tấn công của Bỉ, được chế tạo bởi công ty Fabrique Nationale vào nawm1970, nhằm phục vụ việc chống du kích ở Indonesia và đồng bằng sông Nigiê. Thụy Điển và Indonesia cũng đã thông qua loại súng này và mua giấy phép để chế tạo ngay trong nước. FNC còn được dùng để trang bị cho các lực lượng thi hành công vụ cũng như bán cho thị trường dân sự với mẫu bán tự động.



FNC sử dụng kết hợp các đặc điểm nổi bật của các thiết kế nổi tiếng như AK-47 và M-16 cùng các súng khác. Sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén với thoi nạp đạn xoay với hai móc lớn khóa viên đạn cố định vào vị trí rất giống của AK-47. Phần thân trên được làm bằng thép ép trong khi phần dưới cùng hộp đạn được làm bằng hợp kim nhôm. Nòng súng tích hợp bộ phận chống chớp sáng kiêm bộ phận gắn lựu đạn đầu nòng. Súng có trọng lượng 3,8 kg, sử dụng đạn 5,56x45 mm NATO, tốc độ bắn 600 viên/phút với hộp đạn 30 viên tiêu chuẩn, tầm bắn hiệu quả dưới 400m.




FN FNC khá giống AK 47 do có độ giật cao, sức công phá mạnh, kém chính xác khi bắn liên thanh. Tuy nhiên súng có nhiều chế độ bắn khác nhau, giúp cải thiện độ chính xác tùy vào từng trường hợp khác nhau.

FAMAS

Được chế tạo bởi Pháp vào năm 1981, đã từng được sử dụng trong chiến tranh Vùng Vịnh và Afghanistan, FAMAS đã chứng minh được là một vũ khí đáng tin cậy trong điều kiện chiến đấu. Tuy là súng trường tấn công tiêu chuẩn hiện đại nhất Quân đội Pháp nhưng FAMAS không thực sự là một mẫu súng thành công ở trên bình diện quốc tế.



FAMAS sử dụng cơ chế blowback nạp đạn bằng phản lực bắn có hãm với thiết kế băng đạn gắn phía sau. FAMAS hoạt động theo nguyên tắc nạp đạn tự động trên cơ sở sử dụng áp lực khí thuốc nổ lên đáy buồng đạn để đẩy khóa nòng về sau và tống vỏ đạn ra ngoài. Cơ chế blowback đơn giản, dễ chế tạo, tạo được tốc độ bắn cao, tuy nhiên áp lực khí thuốc sinh ra không được sự dụng hết cho việc đẩy đầu đạn đi nên tầm bắn, khả năng xuyên phá tương đối hạn chế.





Súng có trọng lượng 3,6-3,8 kg, sử dụng đạn 5,56x45mm NATO, tốc độ bắn lên tới 900-1100 viên/phút, hộp đạn rời 25 hoặc 30 viên tiêu chuẩn. Tầm bắn hiệu quả 300-450 m, tuy nhiên tầm bắn xa nhất có thể trên 3000m. FAMAS có tốc độ bắn cao, tuy nhiên sức xuyên phá kém và độ chính xác chưa cao, bên cạnh đó giá thành sản xuất khá cao (1500 Euro) khiến chính phủ Pháp đang phải tìm kiếm phương án thay thế.

Trong phần tiếp theo chúng ta sẽ điểm qua những khẩu súng trường tấn công của Châu Á và phần cuối sẽ là những khẩu súng trường tấn công mạnh nhất, hiệu quả nhất thế giới hiện nay.

QBZ-95

Vào cuối những năm 1980, Trung Quốc đã cố gắng để phát triển một loại đạn riêng là loại 5.8x42mm DBP87, với mục đích cố gắng vượt các loại đạn 5.56x45mm NATO và 5.45x39mm. Ngay khi loại đạn mới sẵn sàng để sử dụng việc nghiên cứu QBZ-95 được tiến hành ngay sau đó. QBZ-95 là sản phẩm của Tập đoàn công nghiệp Bắc Trung Quốc và đượcchấp nhận trang bị vào năm 1995. Loại súng này dự định sẽ trở thành loại súng bộ binh cá nhân tiêu chuẩn cho quân đội Trung Quốc thay thế cho các thế hệ súng bộ binh cá nhân trước đó mang phong cách Liên Xô.



Hình dáng bên ngoài của súng là sự kết hợp giữa SA-80 của Anh và FAMAS của Pháp. Cơ chế hoạt động của QBZ-95kết hợp giữa bullpup và trích khí ngắn, tương tự như cơ chế hoạt động của súng trường tấn công SA-80 của Anh. Súng sử dụng loại đạn 5.8x42mm DBP87, tốc độ bắn 600-800 viên/phút, tầm bắn hiệu quả 500-600m.





QBZ-95 có khả năng hoạt động trong các điều kiện môi trường khắc nghiệt, nhiều bụi bẩn, súng có thể sử dụng sau khi ngâm nước. Có loa che lửa đầu nòng thế hệ mới, kết hợp với một số tính năng giảm giật khác, làm tăng độ chụm của hỏa lực giúp súng có độ chính xác khá cao, . QBZ-95 có thể trang bị kèm theo súng phóng lựu 40mm, tương tự như M203 của Mỹ, ngoài ra súng có thể trang bị thêm lưỡi lê cho cận chiến.

Daewoo K11

Daewoo K11 là một khẩu súng trường tấn công của Hàn Quốc sử dụng loại đạn 5,56 ly và loại đạn nổ trong không trung 20 ly bắn từ ống phóng lựu gắn phía trên nòng súng chính.K11 được Quân đội Hàn Quốc sử dụng từ năm 2008 và được trang bị rộng rãi trong Lục quân Hàn Quốc vào năm 2010; điều này khiến quân đội Hàn trở thành quân đội đầu tiên sử dụng súng trường bắn đạn nổ trong không trung như là một vũ khí tiêu chuẩn trong quân đội.



K11 được thiết kế dựa trên khẩu súng trường tấn công XM29 của Mỹ. Súng trường đa năng K11 được thiết kế một nòng phóng lựu bán tự động 20mm và một súng carbine bên dưới, bắn đạn cỡ 5,56mm. K11 còn được trang bị hệ thống ngắm bắn hỗ trợ bằng máy tính với một bộ đo tầm xa laser tích hợp và các phương tiện quan sát ban đêm bằng hồng ngoại. Súng có trọng lượng khá nặng (6kg), sử dụng đạn 5.56x45mm NATO và đạn nổ 20x30 mm, tốc độ bắn 600 viên/phút, tầm bắn hiệu quả 300-500m. Băng đạn 30 viên tiêu chuẩn và 6 viên đạn nổ 20 ly.

Hệ thống tự điều khiển phát nổ nên đạn 20mm phóng từ súng trường K11 có thể phát hiện mục tiêu và phát nổ cách mục tiêu khoảng 3-4 m, nhờ đó có thể nâng cao khả năng tiêu diệt hoặc tăng tối đa tỷ lệ sát thương mục tiêu. Theo đánh giá K11 sẽ sử dụng đặc biệt hiệu quả trong điều kiện thành phố vì đạn của súng có khả năng xuyên phá mạnh. Tuy nhiên giá thành của một khẩu K11 khá cao, khoảng 14.000 USD.

SAR-12


Giữa những năm 90 của thế kỉ 20, một số đơn vị của Singapore đã đưa ra đề xuất với Bộ Quốc phòng, cần có loại súng bộ binh mới để thay thế khẩu M16S1. Sau hơn 4 năm nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, tới năm 1999, Singapore đã sản xuất thành công đưa vào sử dụng thử nghiệm loại súng trường bộ binh mới SAR21, sử dụng đạn 5,56 mm. Bộ Quốc phòng Singapore tin tưởng tính năng của SAR21 đủ khả năng thay thế cho loại M16 do Singapore tự chế tạo. SAR-21 được các chuyên gia vũ khí coi là một trong những súng trường tấn công tốt nhất hiện nay.



SAR-21 được phát triển theo trào lưu sử dụng thiết kế băng đạn gắn phía sau của các loại súng mới. Loại súng này sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén với thoi nạp đạn xoay, sử dụng hộp đạn rời dạng STANAG và loại đạn tiêu chuẩn là5.56x45mm NATO. Với hai chế độ bắn là phát một và tự động. Thân súng làm bằng vật liệu nhựa tổng hợp có thể chịu áp lực cao, tất cả các linh kiện của súng đều nằm trong thân súng, được gắn với nhau bở các đinh gim và có thể tháo ra một các dễ dàng mà không cần dụng cụ đặc biệt. Súng có tốc độ bắn 450-600 viên/phút, tầm bắn hiệu quả 400m.



Hệ thống nhắm laser được thiết kế dạng khối đặc biệt được tích hợp trên súng nằm bên dưới nòng súng như hệ thống nhắm tiêu chuẩn, nó có thể sử dụng các tia bình thường hoặc tia hồng ngoại. SAR-12 đặc biệt hiệu quả trong tác chiến đô thị nhờ kích thước nhỏ gọn, tạo điều kiện cho xạ thủ cơ động cận chiến trong không gian chật hẹp với chế độ bắn tự động. SAR-12 là một trong số ít súng trường tiến công trên thế giới được tích hợp thiết bị ngắm laser. Lực giật hậu tác động thẳng về phía sau vào xạ thủ chứ không làm hất nòng lên trên, giúp tăng độ chính xác của súng.

Type 89


Type 89 là loại súng trường tấn công của Nhật Bản, được phát triển bởi HOWA Machinery, cung cấp cho lực lượng quốc phòng Nhật Bản. Được phát triển để thay thế Type 64, đồng thời là dự án súng trường tấn công sử dụng loại đạn tiêu chuẩn 5,56x45mm của NATO.



Súng có thiết kế cùng cơ chế hoạt động đơn giản và giảm thiểu tối đa các bộ phận không cần thiết, giúp cho súng khả nhẹ, khoảng 3kg, bên cạnh đó giá thành của súng cũng giảm đáng kể. Cơ chế hoạt động khá giống với AR-18 của Mỹ, sử dụng đạn 5.56x45mm NATO, tốc độ bắn 700 viên/phút, tầm bắn hiệu quả 500m, băng đạn 20/30 viên STANAG tiêu chuẩn.

Type 89 có tốc độ bắn khá cao, tuy nhiên độ chính xác thấp, bên cạnh đó kích thước khá cồng kềnh nên tính cơ động không cao, bù lại trọng lượng của súng khá nhẹ. Súng có thể tích hợp thêm súng phóng lựu, hệ thống ngắm bằng laser. Hiện nay Type 89 đã được cải tiến rất nhiều và sử dụng bởi quân đội nhiều nước không chỉ ở Nhật Bản.

Trong phần tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu các loại súng trường tấn công nổi bất của các nước Châu Âu, và phần cuối của loạt bài sẽ điểm qua các khẩu súng trường tấn công danh tiếng của Mĩ.

FN SCAR

FN SCAR là loại súng trường tấn công do công ty FN Herstal của Bỉ phát triển cho Bộ chỉ huy các hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ. Năm 2004 Bộ chỉ huy các hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ đã đề ra yêu cầu về một loại súng trường tấn công mới cho mình và đã mở thầu để thu hút các công ty vũ khí tham gia. Công ty vũ khí nổi tiếng của Bỉ là FN Herstal đã thắng trong cuộc đấu thầu này với dự án SCAR. Lực lượng đặc nhiệm của Hoa Kỳ đã sử dụng loại súng này trong chiến dịch thủ tiêu Bin Laden.Ngoài ra nó còn được sử dụng trong các lực lượng đặc nhiệm của một số nước.





SCAR sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén với hệ thống trích khí ngắn, thoi nạp đạn xoay với 4 móc xếp theo hình chữ thập. Súng có một thanh răng để gắn các hệ thống nhắm phù hợp với yêu cầu tác chiến, có thêm một số thanh răng phụ nằm trên ốp lót tay của súng. báng súng có thể gấp lại cũng như có thể điều chỉnh chiều dài cho phù hợp với yêu cầu. Một ống phóng lựu 40 mm đã được phát triển cho loại súng này. Ống phóng lựu này được gọi là FN40GL hay Mk 13 Mod 0 vốn được phát triển từ ống phóng GL1 của khẩu FN F2000 .




Khẩu SCAR có nhiều tính năng ưu việt như tháo lắp dễ dàng, dễ thay đổi độ dài ngắn và đường kính nòng, với 3 kiểu nòng khác nhau: nòng súng tiêu chuẩn (chuẩn S); nòng súng chiến đấu cận chiến (chuẩn CQC); nòng súng bắn tỉa (chuẩn SV), tầm bắn hiệu quả từ 300-800m. SCAR có hai loại chính. Một loại sử dụng đạn có kích thước 5,56×45mm, đây được gọi là (SCAR-L) - còn được gọi là loại nhẹ. Một loại khác sử dụng đạn kích thước 7,62x51mm, được gọi là (SCAR-H), cả hai loại súng có thể thay thế, lắp lẫn khá nhiều loại linh kiện đi kèm cho nhau.. Những khẩu súng trong hệ thống SCAR có độ bền chắc, chính xác và tin cậy cao, tiếng ồn ít.

SA80


Súng trường tiến công SA80 đã được triển khai trong tất cả các chiến dịch quân sự có sự tham gia của Anh từ những năm 80 của thế kỷ trước như Bắc Ireland, chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, chiến tranh Bosnia, Kosovo, Sierra Leone, Afghanistan và Iraq. Hiện chủ yếu chỉ có quân đội Anh, quân đội Nepal và quân đội Jamaica sử dụng súng này.



SA80 được thiết kế theo kiểu bullpup, toàn bộ khối đạn dược, bệ khóa nòng nằm phía sau cò súng. Thiết kế này giúp tiết kiệm chiều dài trong khi vẫn đảm bảo được chiều dài nòng súng theo yêu cầu. SA80 có cơ chế nạp đạn tự động bằng trích khí ngắn với bệ khóa nòng gắn khóa nòng xoay. Khóa nòng được điều chỉnh bằng một piston gắn phía trên súng, khóa nòng của SA80 có tới 7 rãnh. Sử dụng đạn 5.56x45mm NATO , băng đạn 30 viên STANAG, tốc độ bắn 600-700 viên/phút, tầm bắn hiệu quả 450m.



Mặc dù, độ tin cậy của SA80 vẫn chưa thể sánh được với AK-47 nhưng sẽ là không quá nếu như nói rằng đây là loại súng trường tiến công chính xác nhất hiện nay. SA80 được cải tiến khá nhiều với các phiên bản L85 IW: súng trường tấn công, L86 LSW: súng máy hạng nhẹ, L22 Carbine (còn viết là L85A2, SA80A2 Carbine, SA80K): súng carbin sản xuất với số lượng hạn chế để xuất khẩu, SA80.22LR: Súng dùng đạn 0,22LR. Sau đợt cải tiến năm 2000, SA80 (L85A2) đạt được độ tin cậy tốt hơn, được đánh giá là súng bộ binh cá nhân tốt nhất nước Anh.

TAR-21

TAR-21 (Tavor Assault Rifle - 21st Century) là loại súng trường tấn công có thiết kế băng đạn gắn phía sau do Israel sản xuất thay thế các loại súng M16 , CAR-15 và IMI Galil . Nó được thiết kế bởi nhà máy quân sự Israel từ năm 1991 để trang bị cho lực lượng phòng vệ Israel . Sự hiệu quả, giá cả và trên hết là sự đa năng của khẩu TAR đang hấp dẫn thị trường vũ khí bộ binh trên thế giới, trong số này nhiều nước ở châu Á tỏ ra đặc biệt quan tâm.




TAR-21 sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén với hệ thống trích khí dài và thoi nạp đạn xoay , có khả năng chọn chế độ bắn. Ống trích khí nằm phía trên nòng súng và hoàn toàn nằm trong thân súng. Thoi nạp đạn xoay với 7 móc khóa viên đạn cố định vào vị trí. Khi bắn vỏ đạn có thể nhả ra ở hai bên thân súng. TAR-21 không có tay cầm cách biệt, tất cả các linh kiên được đặt trong thân súng vốn là một khối nhựa tổng hợp có thể chịu áp lực cao và được gia cố bằng thép ở nhưng chỗ cần thiết. Hệ thống nhắm cơ bản của nó là các hệ thống nhắm tiên tiến như hệ thống nhắm laser hay hệ thống nhắm điểm đỏ .Súng sử dụng loại đạn 5.56×45mm NATO , băng đạn 30 viên STANAG, tốc độ bắn 700-900 viên/phút, tầm bắn hiệu quả 550m.



TAR-21 được các chuyên gia quân sự nước ngoài đánh giá khá cao bởi và được cho là một trong những loại súng trường tấn công tiên tiến trên thế giới, điểm nổi bật của TAR-21 là độ chính xác, gọn nhẹ và cơ động. TAR-21 hiện đại hơn M-16 của Mỹ rất nhiều, xạ thủ có thể lấy đường ngắm chính xác dù cách xa mục tiêu hàng trăm mét mà không yêu cầu cao thao tác phức tạp.

CZ 805 BREN

Khẩu CZ805 BREN của Séc ban đầu được gọi là CZ805A. Đây là một trong những loại súng bộ binh mới nhất mà Séc sản xuất. CZ805 phiên bản đầu tiên chính thức công khai lần đầu tiên năm 2009. Năm 2010, Bộ Quốc phòng Séc cho phép một số phận trong quân đội Séc sử dụng.




Các chuyên gia vũ khí đánh giá, khẩu CZ805 BREN chịu ảnh hưởng nhiều cả về tính năng và thiết kế của khẩu FN SCAR. Ngoài ra súng có một số chi tiết khá giống với XM8 và G36. CZ805 cũng sử dụng thiết kế mô-đun hóa. Hiện súng có hai loại sử dụng đạn 5.56×45mm và 7.62×39mm. Nòng của CZ805 cũng sử dụng theo chế độ tháo lắp nhanh. Mỗi loại với độ dài ngắn phù hợp với từng hoàn cảnh chiến đấu, như nòng ngắn để đột kích; loại nòng tiêu chuẩn; loại nòng bắn tỉa, loại nòng đa dụng tự động. Súng sử dụng theo nguyên lý hoạt động trích khí hành trình ngắn. Hệ thống dẫn khí có thiết bị điều chỉnh khí, có thể thay đổi, điều chỉnh theo nhu cầu sử dụng.

AK 200


Tập đoàn Công nghiệp quốc phòng Izhmash của Nga bắt đầu thử nghiệm loại súng trường tấn công mới AK-200 nhằm thay thế phiên bản súng AK-100 mà quân đội Nga đang sử dụng. Tính năng kỹ, chiến thuật của AK-200 tương đương với các loại vũ khí có tính năng tương tự và tối tân nhất trên thế giới hiện nay.



Tính năng kỹ, chiến thuật của AK-200 tương đương với các loại súng bộ binh tương tự và tối tân nhất trên thế giới hiện nay. AK200 cũng được thiết kế theo dạng mô-đun, cho phép thay đổi nhanh kết cấu của súng, có thể tương thích với các loại thiết bị hỗ trợ và các hệ thống vũ khí khác. Hiệu quả tác chiến của AK-200 cao hơn từ 40% đến 50% so với thế hệ AK trước. Đặc điểm nổi bật của AK-200 là cơ cấu ngắm hở, hộp đạn có dung lượng lớn chứa từ 50 đến 60 viên và có khả năng thay cỡ đạn nhanh chóng bằng cách thay nòng súng. Điểm nổi bật của khẩu AK-200 là có nhiều cỡ băng đạn 30, 50, 60 viên.



Tính năng và thiết kế mới của AK-200 giúp nó trở thành loại vũ khí thông dụng trong các đơn vị lục quân, đặc biệt là các đơn vị đặc nhiệm. Căn cứ vào kết quả thử nghiệm, Bộ Quốc phòng Nga dự kiến sẽ đưa AK-200 vào các chương trình đặt mua vũ khí quốc gia trong thời gian tới.

Trong các phần trước chúng ta đã điểm qua những khẩu súng trường tấn công hàng đầu thế giới, từ các nước Châu Á đến các nước Châu Âu và Mỹ. Trong phần cuối của loạt bài viết “Những khẩu súng trường tấn công hàng đầu thế giới” chúng ta sẽ điểm qua những khẩu súng trường tấn công được xem là hiệu quả và nguy hiểm nhất hiện nay.

Heckler và Koch G36

Khẩu G36 được hình thành từ dự án HK-50 đầu những năm 90. Nguyên nhân là Quân đội Đức (Bundeswehr) sau khi dừng dự án về khẩu G11 và G41 chỉ còn lại khẩu G3 cũ kỹ, thiếu hiện đại, phù hợp với chuẩn NATO. Lúc đó, công ty nổi tiếng của Đức Heckler & Koch bắt tay vào thực hiện dự án này với tiêu chí: linh hoạt, rẻ tiền để chế tạo hàng loạt, hiện đại và độ tin cậy cao trên cơ sở của khẩu G3 đã có. Có vẻ họ đã thành công trên nhiều phương diện. G36 đã được chấp thuận trang bị cho quân đội Đức năm 1995 và sau đó năm 1999, Tây ban nha chấp nhận một phiên bản xuất khẩu khác G36E làm súng chính cho bộ binh. Ngoài ra G36 cũng được trang bị cho các lực lượng của nhiều nước khác như cảnh sát Anh, Mỹ..



G36 sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén với hệ thống trích khí ngắn, thoi nạp đạn xoay của khẩu súng có 7 móc khóa viên đạn cố định vào khoang chứa đạn. Nòng súng của G36 được thiết kế dưới dạng gắn tự do (không tiếp xúc với bất kì bộ phận nào khác của súng ngoài khoang chứa đạn và bộ phận trích khí). G36 sử dụng loại đạn 5.56×45mm tiêu chuẩn của NATO . Hộp đạn của G36 làm bằng nhựa chịu lực và được thiết kế để có gắn cùng nhau mà không cần dụng cụ hỗ trợ. Ngoài ra một loại hộp đạn tròn kép cũng được chế tạo với sức chứa là 100 viên. Súng có thể gắn thêm các linh kiện hỗ trợ như bộ phận chống chớp sáng hay bộ phận hội tụ khí nén để dùng cho lựu đạn phóng từ nòng súng. Tầm bắn hiệu quả 200-600m tùy hệ thống ngắm, tốc độ bắn 750 viên/phút.



Có rất nhiều đánh giá tích cực giành cho G36, một khẩu súng trường tấn công thực sự tốt, rất chính xác, tin cậy và thao tác đơn giản, dễ tháo lắp, lau chùi, bảo dưỡng.

Steyr AUG

Súng Steyr AUG (Armee Universal Gewehr = súng quân dụng phổ thông) là một loại súng trường tấn công của Áo theo kiểu Bullpup với cỡ đạn 5,56mm NATO . Súng được công ty Steyr Mannlicher GmbH & Co KG giới thiệu vào đầu thập kỉ 70. Quân đội Áo chính thức sử dụng súng AUG với tên gọi StG 77 vào năm 1977 , thay thế súng trường tự động StG 58 sử dụng cỡ đạn 7.62mm. Kể từ 1978, AUG trở thành súng tiêu chuẩn của quân đội Áo và các lực lượng cảnh sát khác. Ngoài ra, nhiều lực lượng vũ trang khác cũng sử dụng AUG, trong đó có cả quân đội Mỹ.




Steyr AUG là súng trường tấn công dạng bullpup có băng đạn phía sau, với hệ thống nạp đạn bằng pistong khí, rãnh nòng xoay. Cơ chế bóp cò cải tiến với khả năng thay đổi từ chế độ bắn tự động và bán tự động bằng cách điều chỉnh lực bấm. Trang bị kính ngắm quang học. Sử dụng đạn 5,56x45mm tiêu chuẩn của NATO với bằng đạn 30 hoặc 42 viên, tốc độ bắn 700 viên/phút với tầm bắn hiệu quả 300m.



AUG được tin tưởng và sử dụng bởi quân đội nhiều quốc gia nhờ có độ chính xác cao, hỏa lực mạnh, thiết kế đơn giản và có độ bên cao. Mặc dù tầm bắn hiệu quả 300m, tuy nhiên ở chế độ bán tự động có thể bắn chính xác ở tầm bắn trung và xa. Với nhiều biến thể khác nhau, AUG có thể hỗ trợ nhiều loại nhiệm vụ khác nhau.

BUSHMASTER ACR

ACR (Adaptive Combat Rifle) là tên sản xuất một phiên bản cập nhật của Masada Adaptive Combat Weapon System (hệ thống vũ khí chiến đấu có thể thay đổi thích ứng). Vào cuối tháng 1 năm 2008, Bushmaster đã đi đến thỏa thuận với Magpul về giấy phép để Bushmaster có thể điều hành việc sản xuất, phát triển và vấn đề kinh doanh của Masada.




Thiết kế Magpul Masada thuần túy thể hiện một sự hợp nhất trong những thiết kế súng trường gần đây, kết hợp những ưu điểm tốt nhất của từng bản thiết kế đơn lẻ với những tính năng vượt trội như là nhẹ hay nền tảng mô-đun. Ngoài ra nó còn có những tính năng tiêu biểu của các loại súng khác ví dụ như cán súng ngắn, sử dụng hệ thống gas (Armalite AR-18), receiver đặt trên, các nút điều chỉnh ở cả 2 bên súng (FN SCAR), thoải mái trong việc sử dụng thay thế các thành phần bằng polyme (Heckler & Koch G36/XM8), hệ thống kích hoạt (M16/AR-15), nòng súng và hệ thống kiểm tra bắn (M16). Bên cạnh đó khẩu súng này cũng được trang bị một số tính năng tiên tiến được phát triển bởi Magpul, chẳng hạn như một hệ giúp thay đổi nòng súng một cách nhanh chóng và dễ dàng thống, điều chỉnh chế độ điều tiết gas, xử lý piston, và khả năng dự trữ các phụ kiện ở cán súng. Ngay trước khi bàn giao cho Bushmaster, Magpul cũng vừa kịp bổ sung thêm những nút điều chỉnh đặt ở cả hay bên thuận lợi cho người thuận tay trái, cũng như đặt chúng ở phía trước để tiện sử dụng (tương tự như khẩu Heckler & Koch G3 và Heckler & Koch MP5). Các chuyên gia của Magpul đã nhiều lần đề cập rằng tùy thuộc vào độ dài của nòng súng mà tốc độ bắn ước tính trong khoảng 600-800 viên/phút (tuy nhiên thông tin chính xác cụ thể vẫn chưa được xác minh).



Bushmaster hiện đang cung cấp ACR phiên bản 0,223 Rem/5.56 cho quân sự lẫn dân sự. Tuy nhiên, Bushmaster hy vọng rằng sẽ sớm cung cấp ra thị trường bộ dụng cụ chuyển đổi kích cỡ nòng súng thành loại 6.8mm Rem SPC và 7.62x39mm (chỉ bằng cách thay thế nòng, bolt và mag. Những tùy chọn cho ACR gồm có những tùy điều chỉnh cố định (như chiều dài nòng và các mối nối), cán súng có thể gấp, và cán súng dành cho sniper giống loại PRS Magpul. Ngoài ra còn có bốn lựa chọn ốp tay bao gồm loại heatguard đính kèm ray (dài và ngắn), loại ba ray (Trirail) bằng nhôm (ví dụ như mẫu Remington), và loại ốp nhôm năm cạnh có thể dùng để kế hợp với ray Mil-std-1913. Một mẫu ACR do Remington chế tạo đã được sử dụng trong cuộc thi súng máy cá nhân của quân đội (Army's Individual Carbine).

M4 Carbine

Các loại súng M4 Carbine gồm các loại súng máy cầm tay trang bị cho cá nhân, thế hệ kế tiếp của các loại súng carbine M16 trước đó, các súng này đều được sản xuất dựa trên nguyên bản là súng AR-15 của hãng ArmaLite. Loại súng này là một phiên bản ngắn hơn và nhẹ hơn loại súng trường tấn công M16A2 và có tới 80% các phần của súng giống với M16A2. M4 là loại súng có thể lựa chọn cách bắn từ bán tự động đến 3 viên một (giống như M16A2), trong khi M4A1 có cơ chế hoàn toàn tự động thay thế cho cách bắn 3 viên một.



Là một dòng súng có khả năng tùy biến cao, các loại súng trong dòng M4 Carbine có khả năng được gắn thêm các phụ tùng khác để gia tăng sức chiến đấu. Ví dụ như M4A1 có thể gắn thêm ống phóng lựu M203 để trở thành loại súng trường tấn công có khả năng bắn lựu đạn M4A1/M203 (có thể hiểu là M4A1 gắn M203). Sử dụng loại đạn 5.56 x 45 mm ( NATO ) Tốc độ bắn/phút: 700–950 viên/phút Trọng lượng: 2,52 kg khi không có đạn. Tốc độ bay của đạn: 905 m/s.



Ưu điểm chính của M4A1 là độ chính xác tốt, không bị kẹt đạn, tốc độ bắn cao (800 viên/phút) cùng độ ổn định đáng nể. Chính vì vậy, nó đang được sử dụng tại lực lượng quân sự trên 50 quốc gia khắp thế giới. Việt Nam cũng có một số lực lượng đặc biệt cũng đang sử dụng loại súng này.

Nguồn : genk.vn