Ảnh

Ảnh

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Những khẩu súng trường tấn công hàng đầu

Súng trường tấn công (Assault rifles) là loại vũ khí cực kỳ nguy hiểm, với khả năng sát thương lớn, độ chính xác cao và tốc độ bắn nhanh. Súng trường tấn công thực sự đã làm thay đổi cách chiến đấu thông thường của bộ binh và trở thành loại vũ khí hiệu quả nhất được sử dụng. Với sự chạy đua vũ trang, các quốc gia cũng không ngừng nghiên cứu và phát triển những loại súng trường tấn công hiện đại nhất, trang bị công nghệ cao và tăng khả năng sát thương. Trong loạt bài này chúng ta sẽ điểm qua những khẩu súng trường tấn công hàng đầu thế giới từ trước đến nay.

M16

Được chế tạo bởi Mỹ vào năm 1963 và vẫn được sử dụng cho đến nay. Nó đã được sử dụng trong chiến tranh Vùng Vịnh, chiến tranh Việt Nam , Iraq , Afghanistan và nhiều cuộc chiến khác. Có ba phiên bản khác nhau trong qua trình sản xuất súng M16. Phiên bản đầu tiên: M16 và M16A1, sử dụng trong thập niên 1960, bắn đạn M193/M196 (hoặc .223 Remington), có thể bắn hoàn toàn tự động hay bán tự động, và hai mẫu XM16E1 và M16A1 đồng lọat được sử dụng ở chiến trường Việt Nam. Phiên bản tiếp theo là M16A2, thập niên 1980, bắn đạn M855/M856 (do Bỉ sáng chế sử dụng cho trung liên FN Minimi), có khả năng bắn từng viên hay bắn từng loạt 3 viên. Phiên bản mới nhất hiện nay là M16A4, súng trường tiêu chuẩn của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong chiến tranh Iraq.



M16 nhẹ (3–4 kg), các phần làm bằng thép, hợp kim, nhôm và nhựa cứng (sợi thủy tinh hoặc polymer), sử dụng kỹ thuật giảm nhiệt bằng hơi, tác động lên cò bằng khí ép, đạn nạp từ băng tiếp đạn với cơ cấu khóa nòng xoay, sử dụng loại đạn 5,56×45mm NATO, bằng đạn 20-30 viên tiêu chuẩn. Tốc độ bắn 700-900 viên/phút với tầm bắn hiệu quả dưới 500m.

M16 nổi tiếng là khẩu súng trường tấn công có tốc độ bắn cao, mặc dù hỏa lực không mạnh nhưng lính hoạt và có tính cơ động cao. M16 cũng là một trong những khẩu súng trường tấn công được sử dụng rộng rãi nhất không chỉ bởi quân đội Mỹ. Sau khi được cải tiến khá nhiều, M16 đã trở thành một trong những khẩu súng trường tấn công tốt nhất thế giới, với khả năng trang bị ống phóng lựu 40mm dưới nòng súng và băng đạn nâng cấp 90,100 và 120 viên.

AK47

Là một trong những khẩu súng trường tấn công đầu tiên, và nhanh chóng trở thành một huyền thoại nhờ độ hiệu quả rất cao. Được chế tạo bởi Liên Xô vào năm 1949, tính đến nay đã có khoảng 75 triệu chiếc được sản xuất, được sử dụng bởi quân đội hơn 50 quốc gia cùng các lực lượng vũ trang, du kích trên toàn thế giới.





AK47 có trọng lượng khoảng 4,3 kg, sử dụng đạn 7,62x39 mm M43, tốc độ bắn 600 viên/phút với băng đạn 30 viên tiêu chuẩn. Lỗ trích khí ngang 1/3 nòng súng tính từ ngoài vào Hệ thống thoi đẩy (pít-tông) liền khối với khóa nòng. Búa đập quay, có lẫy hãm để bắn từng viên. Tầm bắn hiệu quả khoảng 400m, ở chế độ bắn từng viên một tầm bắn xa nhất có thể lên tới 800m. AK47 hiện tại có rất nhiều phiên bản khác nhau. Biến thể mới nhất là AK-12 với nhiều tính năng tiên tiến trong khi vẫn có được độ tin cậy cao, dự kiến sẽ được trang bị cho quân đội Nga từ năm 2014.






Chi phí thấp, độ tin cậy, và hiệu quả rất cao trong điều kiện chiến đấu không tiêu chuẩn của loại súng này làm cho nó trở thành loại vũ khí cá nhân thông dụng nhất thế giới. AK47 có độ chính xác không cao khi bắn liên thanh, độ giật cao và độ chụm của hỏa lực tản mát khá nhiều. Mặc dù vậy khi bắn từng viên lại khá chính xác, hỏa lực rất mạnh, có khả năng xuyên phá 1 bức tường 20 cm.

FN FNC

Mẫu súng trường tấn công của Bỉ, được chế tạo bởi công ty Fabrique Nationale vào nawm1970, nhằm phục vụ việc chống du kích ở Indonesia và đồng bằng sông Nigiê. Thụy Điển và Indonesia cũng đã thông qua loại súng này và mua giấy phép để chế tạo ngay trong nước. FNC còn được dùng để trang bị cho các lực lượng thi hành công vụ cũng như bán cho thị trường dân sự với mẫu bán tự động.



FNC sử dụng kết hợp các đặc điểm nổi bật của các thiết kế nổi tiếng như AK-47 và M-16 cùng các súng khác. Sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén với thoi nạp đạn xoay với hai móc lớn khóa viên đạn cố định vào vị trí rất giống của AK-47. Phần thân trên được làm bằng thép ép trong khi phần dưới cùng hộp đạn được làm bằng hợp kim nhôm. Nòng súng tích hợp bộ phận chống chớp sáng kiêm bộ phận gắn lựu đạn đầu nòng. Súng có trọng lượng 3,8 kg, sử dụng đạn 5,56x45 mm NATO, tốc độ bắn 600 viên/phút với hộp đạn 30 viên tiêu chuẩn, tầm bắn hiệu quả dưới 400m.




FN FNC khá giống AK 47 do có độ giật cao, sức công phá mạnh, kém chính xác khi bắn liên thanh. Tuy nhiên súng có nhiều chế độ bắn khác nhau, giúp cải thiện độ chính xác tùy vào từng trường hợp khác nhau.

FAMAS

Được chế tạo bởi Pháp vào năm 1981, đã từng được sử dụng trong chiến tranh Vùng Vịnh và Afghanistan, FAMAS đã chứng minh được là một vũ khí đáng tin cậy trong điều kiện chiến đấu. Tuy là súng trường tấn công tiêu chuẩn hiện đại nhất Quân đội Pháp nhưng FAMAS không thực sự là một mẫu súng thành công ở trên bình diện quốc tế.



FAMAS sử dụng cơ chế blowback nạp đạn bằng phản lực bắn có hãm với thiết kế băng đạn gắn phía sau. FAMAS hoạt động theo nguyên tắc nạp đạn tự động trên cơ sở sử dụng áp lực khí thuốc nổ lên đáy buồng đạn để đẩy khóa nòng về sau và tống vỏ đạn ra ngoài. Cơ chế blowback đơn giản, dễ chế tạo, tạo được tốc độ bắn cao, tuy nhiên áp lực khí thuốc sinh ra không được sự dụng hết cho việc đẩy đầu đạn đi nên tầm bắn, khả năng xuyên phá tương đối hạn chế.





Súng có trọng lượng 3,6-3,8 kg, sử dụng đạn 5,56x45mm NATO, tốc độ bắn lên tới 900-1100 viên/phút, hộp đạn rời 25 hoặc 30 viên tiêu chuẩn. Tầm bắn hiệu quả 300-450 m, tuy nhiên tầm bắn xa nhất có thể trên 3000m. FAMAS có tốc độ bắn cao, tuy nhiên sức xuyên phá kém và độ chính xác chưa cao, bên cạnh đó giá thành sản xuất khá cao (1500 Euro) khiến chính phủ Pháp đang phải tìm kiếm phương án thay thế.

Trong phần tiếp theo chúng ta sẽ điểm qua những khẩu súng trường tấn công của Châu Á và phần cuối sẽ là những khẩu súng trường tấn công mạnh nhất, hiệu quả nhất thế giới hiện nay.

QBZ-95

Vào cuối những năm 1980, Trung Quốc đã cố gắng để phát triển một loại đạn riêng là loại 5.8x42mm DBP87, với mục đích cố gắng vượt các loại đạn 5.56x45mm NATO và 5.45x39mm. Ngay khi loại đạn mới sẵn sàng để sử dụng việc nghiên cứu QBZ-95 được tiến hành ngay sau đó. QBZ-95 là sản phẩm của Tập đoàn công nghiệp Bắc Trung Quốc và đượcchấp nhận trang bị vào năm 1995. Loại súng này dự định sẽ trở thành loại súng bộ binh cá nhân tiêu chuẩn cho quân đội Trung Quốc thay thế cho các thế hệ súng bộ binh cá nhân trước đó mang phong cách Liên Xô.



Hình dáng bên ngoài của súng là sự kết hợp giữa SA-80 của Anh và FAMAS của Pháp. Cơ chế hoạt động của QBZ-95kết hợp giữa bullpup và trích khí ngắn, tương tự như cơ chế hoạt động của súng trường tấn công SA-80 của Anh. Súng sử dụng loại đạn 5.8x42mm DBP87, tốc độ bắn 600-800 viên/phút, tầm bắn hiệu quả 500-600m.





QBZ-95 có khả năng hoạt động trong các điều kiện môi trường khắc nghiệt, nhiều bụi bẩn, súng có thể sử dụng sau khi ngâm nước. Có loa che lửa đầu nòng thế hệ mới, kết hợp với một số tính năng giảm giật khác, làm tăng độ chụm của hỏa lực giúp súng có độ chính xác khá cao, . QBZ-95 có thể trang bị kèm theo súng phóng lựu 40mm, tương tự như M203 của Mỹ, ngoài ra súng có thể trang bị thêm lưỡi lê cho cận chiến.

Daewoo K11

Daewoo K11 là một khẩu súng trường tấn công của Hàn Quốc sử dụng loại đạn 5,56 ly và loại đạn nổ trong không trung 20 ly bắn từ ống phóng lựu gắn phía trên nòng súng chính.K11 được Quân đội Hàn Quốc sử dụng từ năm 2008 và được trang bị rộng rãi trong Lục quân Hàn Quốc vào năm 2010; điều này khiến quân đội Hàn trở thành quân đội đầu tiên sử dụng súng trường bắn đạn nổ trong không trung như là một vũ khí tiêu chuẩn trong quân đội.



K11 được thiết kế dựa trên khẩu súng trường tấn công XM29 của Mỹ. Súng trường đa năng K11 được thiết kế một nòng phóng lựu bán tự động 20mm và một súng carbine bên dưới, bắn đạn cỡ 5,56mm. K11 còn được trang bị hệ thống ngắm bắn hỗ trợ bằng máy tính với một bộ đo tầm xa laser tích hợp và các phương tiện quan sát ban đêm bằng hồng ngoại. Súng có trọng lượng khá nặng (6kg), sử dụng đạn 5.56x45mm NATO và đạn nổ 20x30 mm, tốc độ bắn 600 viên/phút, tầm bắn hiệu quả 300-500m. Băng đạn 30 viên tiêu chuẩn và 6 viên đạn nổ 20 ly.

Hệ thống tự điều khiển phát nổ nên đạn 20mm phóng từ súng trường K11 có thể phát hiện mục tiêu và phát nổ cách mục tiêu khoảng 3-4 m, nhờ đó có thể nâng cao khả năng tiêu diệt hoặc tăng tối đa tỷ lệ sát thương mục tiêu. Theo đánh giá K11 sẽ sử dụng đặc biệt hiệu quả trong điều kiện thành phố vì đạn của súng có khả năng xuyên phá mạnh. Tuy nhiên giá thành của một khẩu K11 khá cao, khoảng 14.000 USD.

SAR-12


Giữa những năm 90 của thế kỉ 20, một số đơn vị của Singapore đã đưa ra đề xuất với Bộ Quốc phòng, cần có loại súng bộ binh mới để thay thế khẩu M16S1. Sau hơn 4 năm nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, tới năm 1999, Singapore đã sản xuất thành công đưa vào sử dụng thử nghiệm loại súng trường bộ binh mới SAR21, sử dụng đạn 5,56 mm. Bộ Quốc phòng Singapore tin tưởng tính năng của SAR21 đủ khả năng thay thế cho loại M16 do Singapore tự chế tạo. SAR-21 được các chuyên gia vũ khí coi là một trong những súng trường tấn công tốt nhất hiện nay.



SAR-21 được phát triển theo trào lưu sử dụng thiết kế băng đạn gắn phía sau của các loại súng mới. Loại súng này sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén với thoi nạp đạn xoay, sử dụng hộp đạn rời dạng STANAG và loại đạn tiêu chuẩn là5.56x45mm NATO. Với hai chế độ bắn là phát một và tự động. Thân súng làm bằng vật liệu nhựa tổng hợp có thể chịu áp lực cao, tất cả các linh kiện của súng đều nằm trong thân súng, được gắn với nhau bở các đinh gim và có thể tháo ra một các dễ dàng mà không cần dụng cụ đặc biệt. Súng có tốc độ bắn 450-600 viên/phút, tầm bắn hiệu quả 400m.



Hệ thống nhắm laser được thiết kế dạng khối đặc biệt được tích hợp trên súng nằm bên dưới nòng súng như hệ thống nhắm tiêu chuẩn, nó có thể sử dụng các tia bình thường hoặc tia hồng ngoại. SAR-12 đặc biệt hiệu quả trong tác chiến đô thị nhờ kích thước nhỏ gọn, tạo điều kiện cho xạ thủ cơ động cận chiến trong không gian chật hẹp với chế độ bắn tự động. SAR-12 là một trong số ít súng trường tiến công trên thế giới được tích hợp thiết bị ngắm laser. Lực giật hậu tác động thẳng về phía sau vào xạ thủ chứ không làm hất nòng lên trên, giúp tăng độ chính xác của súng.

Type 89


Type 89 là loại súng trường tấn công của Nhật Bản, được phát triển bởi HOWA Machinery, cung cấp cho lực lượng quốc phòng Nhật Bản. Được phát triển để thay thế Type 64, đồng thời là dự án súng trường tấn công sử dụng loại đạn tiêu chuẩn 5,56x45mm của NATO.



Súng có thiết kế cùng cơ chế hoạt động đơn giản và giảm thiểu tối đa các bộ phận không cần thiết, giúp cho súng khả nhẹ, khoảng 3kg, bên cạnh đó giá thành của súng cũng giảm đáng kể. Cơ chế hoạt động khá giống với AR-18 của Mỹ, sử dụng đạn 5.56x45mm NATO, tốc độ bắn 700 viên/phút, tầm bắn hiệu quả 500m, băng đạn 20/30 viên STANAG tiêu chuẩn.

Type 89 có tốc độ bắn khá cao, tuy nhiên độ chính xác thấp, bên cạnh đó kích thước khá cồng kềnh nên tính cơ động không cao, bù lại trọng lượng của súng khá nhẹ. Súng có thể tích hợp thêm súng phóng lựu, hệ thống ngắm bằng laser. Hiện nay Type 89 đã được cải tiến rất nhiều và sử dụng bởi quân đội nhiều nước không chỉ ở Nhật Bản.

Trong phần tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu các loại súng trường tấn công nổi bất của các nước Châu Âu, và phần cuối của loạt bài sẽ điểm qua các khẩu súng trường tấn công danh tiếng của Mĩ.

FN SCAR

FN SCAR là loại súng trường tấn công do công ty FN Herstal của Bỉ phát triển cho Bộ chỉ huy các hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ. Năm 2004 Bộ chỉ huy các hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ đã đề ra yêu cầu về một loại súng trường tấn công mới cho mình và đã mở thầu để thu hút các công ty vũ khí tham gia. Công ty vũ khí nổi tiếng của Bỉ là FN Herstal đã thắng trong cuộc đấu thầu này với dự án SCAR. Lực lượng đặc nhiệm của Hoa Kỳ đã sử dụng loại súng này trong chiến dịch thủ tiêu Bin Laden.Ngoài ra nó còn được sử dụng trong các lực lượng đặc nhiệm của một số nước.





SCAR sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén với hệ thống trích khí ngắn, thoi nạp đạn xoay với 4 móc xếp theo hình chữ thập. Súng có một thanh răng để gắn các hệ thống nhắm phù hợp với yêu cầu tác chiến, có thêm một số thanh răng phụ nằm trên ốp lót tay của súng. báng súng có thể gấp lại cũng như có thể điều chỉnh chiều dài cho phù hợp với yêu cầu. Một ống phóng lựu 40 mm đã được phát triển cho loại súng này. Ống phóng lựu này được gọi là FN40GL hay Mk 13 Mod 0 vốn được phát triển từ ống phóng GL1 của khẩu FN F2000 .




Khẩu SCAR có nhiều tính năng ưu việt như tháo lắp dễ dàng, dễ thay đổi độ dài ngắn và đường kính nòng, với 3 kiểu nòng khác nhau: nòng súng tiêu chuẩn (chuẩn S); nòng súng chiến đấu cận chiến (chuẩn CQC); nòng súng bắn tỉa (chuẩn SV), tầm bắn hiệu quả từ 300-800m. SCAR có hai loại chính. Một loại sử dụng đạn có kích thước 5,56×45mm, đây được gọi là (SCAR-L) - còn được gọi là loại nhẹ. Một loại khác sử dụng đạn kích thước 7,62x51mm, được gọi là (SCAR-H), cả hai loại súng có thể thay thế, lắp lẫn khá nhiều loại linh kiện đi kèm cho nhau.. Những khẩu súng trong hệ thống SCAR có độ bền chắc, chính xác và tin cậy cao, tiếng ồn ít.

SA80


Súng trường tiến công SA80 đã được triển khai trong tất cả các chiến dịch quân sự có sự tham gia của Anh từ những năm 80 của thế kỷ trước như Bắc Ireland, chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, chiến tranh Bosnia, Kosovo, Sierra Leone, Afghanistan và Iraq. Hiện chủ yếu chỉ có quân đội Anh, quân đội Nepal và quân đội Jamaica sử dụng súng này.



SA80 được thiết kế theo kiểu bullpup, toàn bộ khối đạn dược, bệ khóa nòng nằm phía sau cò súng. Thiết kế này giúp tiết kiệm chiều dài trong khi vẫn đảm bảo được chiều dài nòng súng theo yêu cầu. SA80 có cơ chế nạp đạn tự động bằng trích khí ngắn với bệ khóa nòng gắn khóa nòng xoay. Khóa nòng được điều chỉnh bằng một piston gắn phía trên súng, khóa nòng của SA80 có tới 7 rãnh. Sử dụng đạn 5.56x45mm NATO , băng đạn 30 viên STANAG, tốc độ bắn 600-700 viên/phút, tầm bắn hiệu quả 450m.



Mặc dù, độ tin cậy của SA80 vẫn chưa thể sánh được với AK-47 nhưng sẽ là không quá nếu như nói rằng đây là loại súng trường tiến công chính xác nhất hiện nay. SA80 được cải tiến khá nhiều với các phiên bản L85 IW: súng trường tấn công, L86 LSW: súng máy hạng nhẹ, L22 Carbine (còn viết là L85A2, SA80A2 Carbine, SA80K): súng carbin sản xuất với số lượng hạn chế để xuất khẩu, SA80.22LR: Súng dùng đạn 0,22LR. Sau đợt cải tiến năm 2000, SA80 (L85A2) đạt được độ tin cậy tốt hơn, được đánh giá là súng bộ binh cá nhân tốt nhất nước Anh.

TAR-21

TAR-21 (Tavor Assault Rifle - 21st Century) là loại súng trường tấn công có thiết kế băng đạn gắn phía sau do Israel sản xuất thay thế các loại súng M16 , CAR-15 và IMI Galil . Nó được thiết kế bởi nhà máy quân sự Israel từ năm 1991 để trang bị cho lực lượng phòng vệ Israel . Sự hiệu quả, giá cả và trên hết là sự đa năng của khẩu TAR đang hấp dẫn thị trường vũ khí bộ binh trên thế giới, trong số này nhiều nước ở châu Á tỏ ra đặc biệt quan tâm.




TAR-21 sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén với hệ thống trích khí dài và thoi nạp đạn xoay , có khả năng chọn chế độ bắn. Ống trích khí nằm phía trên nòng súng và hoàn toàn nằm trong thân súng. Thoi nạp đạn xoay với 7 móc khóa viên đạn cố định vào vị trí. Khi bắn vỏ đạn có thể nhả ra ở hai bên thân súng. TAR-21 không có tay cầm cách biệt, tất cả các linh kiên được đặt trong thân súng vốn là một khối nhựa tổng hợp có thể chịu áp lực cao và được gia cố bằng thép ở nhưng chỗ cần thiết. Hệ thống nhắm cơ bản của nó là các hệ thống nhắm tiên tiến như hệ thống nhắm laser hay hệ thống nhắm điểm đỏ .Súng sử dụng loại đạn 5.56×45mm NATO , băng đạn 30 viên STANAG, tốc độ bắn 700-900 viên/phút, tầm bắn hiệu quả 550m.



TAR-21 được các chuyên gia quân sự nước ngoài đánh giá khá cao bởi và được cho là một trong những loại súng trường tấn công tiên tiến trên thế giới, điểm nổi bật của TAR-21 là độ chính xác, gọn nhẹ và cơ động. TAR-21 hiện đại hơn M-16 của Mỹ rất nhiều, xạ thủ có thể lấy đường ngắm chính xác dù cách xa mục tiêu hàng trăm mét mà không yêu cầu cao thao tác phức tạp.

CZ 805 BREN

Khẩu CZ805 BREN của Séc ban đầu được gọi là CZ805A. Đây là một trong những loại súng bộ binh mới nhất mà Séc sản xuất. CZ805 phiên bản đầu tiên chính thức công khai lần đầu tiên năm 2009. Năm 2010, Bộ Quốc phòng Séc cho phép một số phận trong quân đội Séc sử dụng.




Các chuyên gia vũ khí đánh giá, khẩu CZ805 BREN chịu ảnh hưởng nhiều cả về tính năng và thiết kế của khẩu FN SCAR. Ngoài ra súng có một số chi tiết khá giống với XM8 và G36. CZ805 cũng sử dụng thiết kế mô-đun hóa. Hiện súng có hai loại sử dụng đạn 5.56×45mm và 7.62×39mm. Nòng của CZ805 cũng sử dụng theo chế độ tháo lắp nhanh. Mỗi loại với độ dài ngắn phù hợp với từng hoàn cảnh chiến đấu, như nòng ngắn để đột kích; loại nòng tiêu chuẩn; loại nòng bắn tỉa, loại nòng đa dụng tự động. Súng sử dụng theo nguyên lý hoạt động trích khí hành trình ngắn. Hệ thống dẫn khí có thiết bị điều chỉnh khí, có thể thay đổi, điều chỉnh theo nhu cầu sử dụng.

AK 200


Tập đoàn Công nghiệp quốc phòng Izhmash của Nga bắt đầu thử nghiệm loại súng trường tấn công mới AK-200 nhằm thay thế phiên bản súng AK-100 mà quân đội Nga đang sử dụng. Tính năng kỹ, chiến thuật của AK-200 tương đương với các loại vũ khí có tính năng tương tự và tối tân nhất trên thế giới hiện nay.



Tính năng kỹ, chiến thuật của AK-200 tương đương với các loại súng bộ binh tương tự và tối tân nhất trên thế giới hiện nay. AK200 cũng được thiết kế theo dạng mô-đun, cho phép thay đổi nhanh kết cấu của súng, có thể tương thích với các loại thiết bị hỗ trợ và các hệ thống vũ khí khác. Hiệu quả tác chiến của AK-200 cao hơn từ 40% đến 50% so với thế hệ AK trước. Đặc điểm nổi bật của AK-200 là cơ cấu ngắm hở, hộp đạn có dung lượng lớn chứa từ 50 đến 60 viên và có khả năng thay cỡ đạn nhanh chóng bằng cách thay nòng súng. Điểm nổi bật của khẩu AK-200 là có nhiều cỡ băng đạn 30, 50, 60 viên.



Tính năng và thiết kế mới của AK-200 giúp nó trở thành loại vũ khí thông dụng trong các đơn vị lục quân, đặc biệt là các đơn vị đặc nhiệm. Căn cứ vào kết quả thử nghiệm, Bộ Quốc phòng Nga dự kiến sẽ đưa AK-200 vào các chương trình đặt mua vũ khí quốc gia trong thời gian tới.

Trong các phần trước chúng ta đã điểm qua những khẩu súng trường tấn công hàng đầu thế giới, từ các nước Châu Á đến các nước Châu Âu và Mỹ. Trong phần cuối của loạt bài viết “Những khẩu súng trường tấn công hàng đầu thế giới” chúng ta sẽ điểm qua những khẩu súng trường tấn công được xem là hiệu quả và nguy hiểm nhất hiện nay.

Heckler và Koch G36

Khẩu G36 được hình thành từ dự án HK-50 đầu những năm 90. Nguyên nhân là Quân đội Đức (Bundeswehr) sau khi dừng dự án về khẩu G11 và G41 chỉ còn lại khẩu G3 cũ kỹ, thiếu hiện đại, phù hợp với chuẩn NATO. Lúc đó, công ty nổi tiếng của Đức Heckler & Koch bắt tay vào thực hiện dự án này với tiêu chí: linh hoạt, rẻ tiền để chế tạo hàng loạt, hiện đại và độ tin cậy cao trên cơ sở của khẩu G3 đã có. Có vẻ họ đã thành công trên nhiều phương diện. G36 đã được chấp thuận trang bị cho quân đội Đức năm 1995 và sau đó năm 1999, Tây ban nha chấp nhận một phiên bản xuất khẩu khác G36E làm súng chính cho bộ binh. Ngoài ra G36 cũng được trang bị cho các lực lượng của nhiều nước khác như cảnh sát Anh, Mỹ..



G36 sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén với hệ thống trích khí ngắn, thoi nạp đạn xoay của khẩu súng có 7 móc khóa viên đạn cố định vào khoang chứa đạn. Nòng súng của G36 được thiết kế dưới dạng gắn tự do (không tiếp xúc với bất kì bộ phận nào khác của súng ngoài khoang chứa đạn và bộ phận trích khí). G36 sử dụng loại đạn 5.56×45mm tiêu chuẩn của NATO . Hộp đạn của G36 làm bằng nhựa chịu lực và được thiết kế để có gắn cùng nhau mà không cần dụng cụ hỗ trợ. Ngoài ra một loại hộp đạn tròn kép cũng được chế tạo với sức chứa là 100 viên. Súng có thể gắn thêm các linh kiện hỗ trợ như bộ phận chống chớp sáng hay bộ phận hội tụ khí nén để dùng cho lựu đạn phóng từ nòng súng. Tầm bắn hiệu quả 200-600m tùy hệ thống ngắm, tốc độ bắn 750 viên/phút.



Có rất nhiều đánh giá tích cực giành cho G36, một khẩu súng trường tấn công thực sự tốt, rất chính xác, tin cậy và thao tác đơn giản, dễ tháo lắp, lau chùi, bảo dưỡng.

Steyr AUG

Súng Steyr AUG (Armee Universal Gewehr = súng quân dụng phổ thông) là một loại súng trường tấn công của Áo theo kiểu Bullpup với cỡ đạn 5,56mm NATO . Súng được công ty Steyr Mannlicher GmbH & Co KG giới thiệu vào đầu thập kỉ 70. Quân đội Áo chính thức sử dụng súng AUG với tên gọi StG 77 vào năm 1977 , thay thế súng trường tự động StG 58 sử dụng cỡ đạn 7.62mm. Kể từ 1978, AUG trở thành súng tiêu chuẩn của quân đội Áo và các lực lượng cảnh sát khác. Ngoài ra, nhiều lực lượng vũ trang khác cũng sử dụng AUG, trong đó có cả quân đội Mỹ.




Steyr AUG là súng trường tấn công dạng bullpup có băng đạn phía sau, với hệ thống nạp đạn bằng pistong khí, rãnh nòng xoay. Cơ chế bóp cò cải tiến với khả năng thay đổi từ chế độ bắn tự động và bán tự động bằng cách điều chỉnh lực bấm. Trang bị kính ngắm quang học. Sử dụng đạn 5,56x45mm tiêu chuẩn của NATO với bằng đạn 30 hoặc 42 viên, tốc độ bắn 700 viên/phút với tầm bắn hiệu quả 300m.



AUG được tin tưởng và sử dụng bởi quân đội nhiều quốc gia nhờ có độ chính xác cao, hỏa lực mạnh, thiết kế đơn giản và có độ bên cao. Mặc dù tầm bắn hiệu quả 300m, tuy nhiên ở chế độ bán tự động có thể bắn chính xác ở tầm bắn trung và xa. Với nhiều biến thể khác nhau, AUG có thể hỗ trợ nhiều loại nhiệm vụ khác nhau.

BUSHMASTER ACR

ACR (Adaptive Combat Rifle) là tên sản xuất một phiên bản cập nhật của Masada Adaptive Combat Weapon System (hệ thống vũ khí chiến đấu có thể thay đổi thích ứng). Vào cuối tháng 1 năm 2008, Bushmaster đã đi đến thỏa thuận với Magpul về giấy phép để Bushmaster có thể điều hành việc sản xuất, phát triển và vấn đề kinh doanh của Masada.




Thiết kế Magpul Masada thuần túy thể hiện một sự hợp nhất trong những thiết kế súng trường gần đây, kết hợp những ưu điểm tốt nhất của từng bản thiết kế đơn lẻ với những tính năng vượt trội như là nhẹ hay nền tảng mô-đun. Ngoài ra nó còn có những tính năng tiêu biểu của các loại súng khác ví dụ như cán súng ngắn, sử dụng hệ thống gas (Armalite AR-18), receiver đặt trên, các nút điều chỉnh ở cả 2 bên súng (FN SCAR), thoải mái trong việc sử dụng thay thế các thành phần bằng polyme (Heckler & Koch G36/XM8), hệ thống kích hoạt (M16/AR-15), nòng súng và hệ thống kiểm tra bắn (M16). Bên cạnh đó khẩu súng này cũng được trang bị một số tính năng tiên tiến được phát triển bởi Magpul, chẳng hạn như một hệ giúp thay đổi nòng súng một cách nhanh chóng và dễ dàng thống, điều chỉnh chế độ điều tiết gas, xử lý piston, và khả năng dự trữ các phụ kiện ở cán súng. Ngay trước khi bàn giao cho Bushmaster, Magpul cũng vừa kịp bổ sung thêm những nút điều chỉnh đặt ở cả hay bên thuận lợi cho người thuận tay trái, cũng như đặt chúng ở phía trước để tiện sử dụng (tương tự như khẩu Heckler & Koch G3 và Heckler & Koch MP5). Các chuyên gia của Magpul đã nhiều lần đề cập rằng tùy thuộc vào độ dài của nòng súng mà tốc độ bắn ước tính trong khoảng 600-800 viên/phút (tuy nhiên thông tin chính xác cụ thể vẫn chưa được xác minh).



Bushmaster hiện đang cung cấp ACR phiên bản 0,223 Rem/5.56 cho quân sự lẫn dân sự. Tuy nhiên, Bushmaster hy vọng rằng sẽ sớm cung cấp ra thị trường bộ dụng cụ chuyển đổi kích cỡ nòng súng thành loại 6.8mm Rem SPC và 7.62x39mm (chỉ bằng cách thay thế nòng, bolt và mag. Những tùy chọn cho ACR gồm có những tùy điều chỉnh cố định (như chiều dài nòng và các mối nối), cán súng có thể gấp, và cán súng dành cho sniper giống loại PRS Magpul. Ngoài ra còn có bốn lựa chọn ốp tay bao gồm loại heatguard đính kèm ray (dài và ngắn), loại ba ray (Trirail) bằng nhôm (ví dụ như mẫu Remington), và loại ốp nhôm năm cạnh có thể dùng để kế hợp với ray Mil-std-1913. Một mẫu ACR do Remington chế tạo đã được sử dụng trong cuộc thi súng máy cá nhân của quân đội (Army's Individual Carbine).

M4 Carbine

Các loại súng M4 Carbine gồm các loại súng máy cầm tay trang bị cho cá nhân, thế hệ kế tiếp của các loại súng carbine M16 trước đó, các súng này đều được sản xuất dựa trên nguyên bản là súng AR-15 của hãng ArmaLite. Loại súng này là một phiên bản ngắn hơn và nhẹ hơn loại súng trường tấn công M16A2 và có tới 80% các phần của súng giống với M16A2. M4 là loại súng có thể lựa chọn cách bắn từ bán tự động đến 3 viên một (giống như M16A2), trong khi M4A1 có cơ chế hoàn toàn tự động thay thế cho cách bắn 3 viên một.



Là một dòng súng có khả năng tùy biến cao, các loại súng trong dòng M4 Carbine có khả năng được gắn thêm các phụ tùng khác để gia tăng sức chiến đấu. Ví dụ như M4A1 có thể gắn thêm ống phóng lựu M203 để trở thành loại súng trường tấn công có khả năng bắn lựu đạn M4A1/M203 (có thể hiểu là M4A1 gắn M203). Sử dụng loại đạn 5.56 x 45 mm ( NATO ) Tốc độ bắn/phút: 700–950 viên/phút Trọng lượng: 2,52 kg khi không có đạn. Tốc độ bay của đạn: 905 m/s.



Ưu điểm chính của M4A1 là độ chính xác tốt, không bị kẹt đạn, tốc độ bắn cao (800 viên/phút) cùng độ ổn định đáng nể. Chính vì vậy, nó đang được sử dụng tại lực lượng quân sự trên 50 quốc gia khắp thế giới. Việt Nam cũng có một số lực lượng đặc biệt cũng đang sử dụng loại súng này.

Nguồn : genk.vn

Những khẩu tiểu liên nổi tiếng

Súng tiểu liên là loại vũ khí cá nhân tầm gần, thuộc họ súng máy, cũng thuộc họ súng tự động tùy theo phân loại của các quốc gia. Do cấu tạo trích khí gián tiếp hoặc trực tiếp để lùi khóa nòng phối hợp với lò xo đẩy đạn, lò xo hồi khóa nòng để nạp đạn tự động, tiểu liên có thể bắn từng phát hoặc bắn liên tục. Tốc độ bắn trong thử nghiệm súng có thể đạt 600 phát/phút. Tốc độ bắn trong thực tế chiến đấu khoảng 100 phát/phút. Hộp tiếp đạn có thể chứa từ 20 đến 40 viên.

Được phát mình đầu tiên bởi người Đức trong Thế chiến thứ I, sau đó tiếp tục được sử dụng rộng rãi trong Thế chiến II với hai khẩu tiêu liên huyền thoại là M1 Thompson và MP-40. Cho đến sau này, người Đức vẫn chứng tỏ vị trí đứng đầu trong công nghệ sản xuất súng tiểu liên của mình với khẩu MP5 rất nổi tiếng và được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay.


M1 Thompson


Cỡ đạn : .45ACP (11,43x23mm)

Dài : 852mm (M1928)

Nặng : 4,9kg (M1928)

Băng đạn : băng đạn thẳng 20/30 viên, băng đạn tròn 50/100 viên

Tầm bắn hiệu quả : 100-150m

Tốc độ bắn: 600 viên/phút






Súng tiểu liên Thompson do ông John T. Thompson thiết kế đã đi vào sản xuất hàng loạt từ năm 1921 với nhiều phiên bản. Thompson là tiểu liên chính của cảnh sát Mỹ trong khoảng thời gian sau vài năm nó được tạo ra, nó cũng xuất hiện với vai trò là súng tiểu liên chính của quân đội Mỹ trong Thế chiến hai, đồng thời cũng được trang bị cho nhiều nước đồng minh khác. Trong chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam, các chiến sĩ cùng người dân Miền Nam Việt Nam đã tịch thu rất nhiều súng Thompson từ quân đội Pháp và đặt cho nó cái tên ngộ nghĩnh là Tôm sông.

Khẩu súng này có nhiều ưu điểm: tốc độ bắn nhanh, thay đạn dễ dàng, bắn khá chính xác. Nhiều loại súng hiện đại thời nay vẫn dựa trên mẫu Thompson để sản xuất vì cơ cấu chốt khóa cơ bẩm của Thompson làm cho súng tản nhiệt nhanh, cò súng ít khi bị kẹt nhưng cũng bộc lộ nhược điểm: súng khá nặng. Do sử dụng đạn .45 ACP nên súng khá nặng so với những loại súng tiểu liên 9mm khác như là: Sten, MP-40, MAT-49,... Thompson M1919 là khẩu súng sơ khai của các mẫu súng Thompson khác. Sau khi biến chuyển nhiều lần, nó trở thành khẩu M1928 huyền thoại trên mặt trận Thái Bình Dương.





Được xem là khẩu súng tiểu liên có liên quan tới các băng đảng gangster ở Mỹ, bằng chứng là trong một bộ phim hình sự của năm 2009 là Public Enemies (Kẻ thù quốc gia), trong bộ phim này Johnny Deep vào vai một tên trùm băng cướp khét tiếng có thật trong lịch sử nước Mỹ tên là John Dillinger, anh ta cùng một số đồng bọn lẫn cả những nhân viên FBI đều dùng súng M1928 "Tommy Gun" trong suốt bộ phim. Súng Thompson có một mối quan hệ tốt với quân đội không lâu sau. Nó được sản xuât rộng rãi từ năm 1925 trở đi cho quân đội Mỹ với số lượng không nhỏ. Liên thanh là một trong những lợi và yếu thế của nó vì đôi khi tản nhiệt không kịp. Độ giật của nó khá cao, vì vậy nên khẩu M1928A1 được đặt thêm thiết bị giảm rung, tiếng Anh gọi là Cutts compensator. Nhưng rắc rối xảy ra khi nó khá đắt tiền và gia công lâu nên khẩu M1A1 ra đời thay thế chỗ cho nó trên mặt trận phía Tây. Sau chiến tranh Triều Tiên, nó tiếp tục nhiệm vụ trong chiến tranh Việt Nam vài năm đầu, đến năm 1965 thì bị thay thế bởi súng trường M16 và AR-15.


MP-40

Cỡ đạn : 9x19mm Parabellum

Dài : 630/833mm

Nặng : 4,03/4,7kg

Băng đạn : 32 viên

Tầm bắn hiệu quả : 100m

Tốc độ bắn: 550 viên/phút




MP-40 (MP viết tắt của Maschinenpistole) là loại súng tiểu liên cùng dòng được quân đội Đức quốc xã sử dụng rộng rãi trong thế chiến thứ hai, ngoài ra nó còn được các lực lượng vũ trang khác sử dụng. Nó có 2 người anh em nữa là MP-38 và MP-41. MP-40 được Heinrich Vollmer thiết kế dựa trên mẫu VPM 1930 của Heinrich Vollmer. Quân Đồng minh thường gọi nó là "Schmeisser" theo tên Hugo Schmeisser mặc dù nó thực sự không phải thiết kế của nhà thiết kế súng này.

MP-40 là loại súng tiểu liên bán tự động và tự động, hoạt động theo nguyên tắc trích khí phản lực, với thiết kế vỏ kim loại hoàn toàn cùng báng gấp khá đẹp và gọn. Ban đầu người ta sản xuất chúng từ nhôm đúc, nhưng sau đó do quá tốn kém nên chúng chỉ được làm với nhôm dát mỏng qua kỹ thuật hàn điện và thậm chí cả nhựa tổng hợp.Tuy nhiên, chúng vẫn nổi tiếng với sự chính xác cao và đặc biệt không bao giờ bị kẹt đạn khi bắn.



Tuy vậy, khẩu MP-40 vẫn có những điểm yếu như ở băng đạn 32 viên của nó. Với kiểu thiết kế băng đạn đẩy từng viên một lên nòng, chứ không phải đẩy 2 viên một lên nòng như khẩu Thompson của Mỹ, tạo ra ma sát lớn giữa các viên đạn trong băng đạn và đôi khi làm cho đạn bị chẹt không lên nòng được. Một nhược điểm nữa mà ta thường xuyên thấy là xạ thủ khi bắn thường nắm tay vào băng đạn tạo ra áp lực lớn lên băng đạn làm băng đạn bị lệch khỏi vị trí và bị lỏng ra khi lắp vào súng. Lính Đức luôn được huấn luyện để khi bắn luôn để tay vào phía giữa băng đạn và cò súng để tránh làm hỏng súng.


PPSh-41

Cỡ đạn : 7,62×25mm Tokarev

Dài : 843mm

Nặng : 4,3-5,45kg

Băng đạn : băng đạn trống 71 viên và băng đạn cong 35 viên

Tầm bắn hiệu quả : 200m

Tốc độ bắn: 900 viên/phút





PPSh-41 (Pistolet-Pulemyot Shpagina obrazet 1941 - Súng tiểu liên của Shpangin kiểu năm 1941) là súng tiểu liên được kỹ sư Georgi Shpagin thiết kế. Súng được chấp nhận trang bị năm 1941 và là súng tiểu liên tiêu chuẩn của Hồng quân Xô Viết trong thế chiến thứ hai. Có thể coi đây là một phiên bản đơn giản hóa, tối ưu hóa của khẩu súng tiểu liên do thiếu tướng - kỹ sư Vasily Degtyaryov thiết kế năm 1934 (cải tiến vào năm 1940 trở thành PPD-40). PPSh-41 với thiết kế máy lùi, bắn khi khóa nòng hở, sử dụng đạn 7,62×25mm của súng ngắn Tokarev TT-33 đã trở thành súng tiểu liên tiêu chuẩn của Hồng quân Xô Viết khi đó.

Ngoài thiết kế đơn giản, dễ chế tạo và sử dụng, những khẩu PPSh-41 được sản xuất trong thế chiến còn rất rẻ do các bộ phận bằng kim loại, trừ nòng và khóa nòng, đều không được gia công bằng các phương pháp phức tạp như súng trường, tuy nhiên vẫn bảo đảm cho khẩu súng có một kết cấu vững chắc. Hàng triệu khẩu PPSh-41 đã ra đời trong các nhà máy tạm thời được sơ tán kể từ khi quân Đức tràn vào lãnh thổ Liên bang Xô Viết.





Đạn 7,62×25mm Tokarev có đường đạn và khả năng xuyên tốt hơn nhiều so với đạn 9x19mm, và tốt hơn nhiều so với đạn .45 ACP. Có thể nói nền móng thành công của 7,62×25mm Tokarev là 7,63×25mm Mauser. Ngoài ưu thế về đạn, PPSh-41 còn có tốc độ bắn lý thuyết lên tới 900 phát/phút tạo ra ưu thế hỏa lực chế áp tầm gần và xung phong. Điều này được củng cố bởi hộp tiếp đạn trống 71 viên làm tăng khả năng duy trì hỏa lực, hạn chế thời gian dừng thay đạn.


Sten


Cỡ đạn : 9x19mm Parabellum
Dài : 900mm (MkII)

Nặng : 3,48kg (MkII)

Băng đạn : 32 viên

Tầm bắn hiệu quả : 50-100m

Tốc độ bắn 500 viên/phút




Sten là một trong những khẩu súng tiểu liên được dùng bởi quân đội Anh và tất cả lực lượng kháng chiến ở châu Âu trong suốt thế chiến thứ hai. Đây là một trong những khẩu súng tiểu liên nổi tiếng nhất trong thời thế chiến thứ hai, chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam. Súng tiểu liên Sten được thiết kế khá đơn giản với chi phí sản xuất thấp.

Khi thế chiến thứ hai bùng nổ, tất cả súng tiểu liên được gửi đến cho quân đội Anh ở tất cả các mặt trận và cũng được bán cho những lực lượng kháng chiến ở châu Âu. Những người kháng chiến bảo rằng thật may mắn khi họ có khẩu Sten vì trước khi Sten ra đời thì họ phải dùng Thompson, MP-40 và một vài khẩu súng trường khác. Hai khẩu tiểu liên đó không có giảm thanh khiến cho những cuộc phục kích và ám sát những sỹ quan cấp cao Đức bị quân lính Đức phát hiện rất nhanh, kết quả là hơn một nữa số người đã bị bắt hoặc bị bắn chết ngay tại chỗ. Nhờ mẫu Sten Mk IIS có thể gắn giảm thanh lẫn cả sự chính sác cao nên việc ám sát của họ đã thành công, có rất nhiều người đã nhận xét rằng Sten có tạo hình rất lạ giống một khẩu súng tự tạo tại nhà hơn là vũ khí trong chiến tranh.




Tuy vậy, khẩu Sten cũng bị coi là thiếu tin cậy hơn so với khẩu Thompson hay MP-40, nó không thể hoạt động ổn định trong những môi trường khắc nghiệt nhưrừng nhiệt đới. Chính vì điều đó đã khiến cho cuộc ám sát một sĩ quan SS, Reinhard Heinrich của hai lính biệt kích người Séc suýt nữa thất bại chỉ vì khẩu Sten của họ bị kẹt đạn và họ phải sử dụng lựu đạn. Có một điều lạ là súng Sten đã được dùng bởi rất nhiều lực lượng Anh trên tất cả các chiến trường nhưng các lực lượng ở châu Phi sử dụng Sten với số lượng ít vô cùng, trong hàng ngàn binh lính chỉ có vài trăm người là dùng khẩu Sten.

Sten đã được bán khắp nơi trên thế giới sau chiến tranh Việt Nam, nó là một khẩu tiểu liên ưa thích của nhiều lực lượng nổi dậy từ nhiều cuộc chiến trên thế giới. Vì sử dụng loại đạn nổi tiếng thế giới, 9x19mm, nên việc tìm và mua đạn cho khẩu Sten không khó cho lắm. Đáng chú ý nhất là quân du kích Mujahideen và Taliban trong chiến tranh Afghanistan cùng với nhiều lực lượng nổi dậy khác ở châu Phi.

HK MP5

Nói đến dòng súng tiểu liên SMG (Sub-Machine Gun), không ai không biết đến loại súng HK MP-5, vũ khí rất nổi tiếng có mặt trong trang bị của hầu hết các lực lượng đặc nhiệm trên thế giới, và là niềm tự hào của người Đức. MP5 là khẩu súng có uy lực bắn không lớn nhưng bù lại nó có độ giật thấp khi bắn tốc độ bắn nhanh; nhỏ gọn, nhẹ tiện lợi và có thể lắp thêm phụ kiện như ống hãm thanh, kính ngắm laser... nên khẩu tiểu liên này rất được các đội đặc nhiệm nổi tiếng trên thế giới ưa dùng như đặc nhiệm Hải quân Mỹ Navy SEAL, đặc nhiệm SWAT (Mỹ), Hiến binh Pháp (GIGN), đặc nhiệm GSG-9 (Đức).





MP5, về cơ bản giống với khẩu súng trường tấn công HK G-3 với nòng rãnh xoắn, 3 chế độ bắn khác nhau và cơ chế búa điểm hỏa. MP5 sử dụng cơ cấu ngắm bắn khe ngắm – đầu ruồi, cơ cấu này dùng vật chuẩn thứ nhất (đầu ruồi) hình chữ I đặt trong khe ngắm hình chữ V, chia đôi khe sáng ở khe ngắm thành hai phần bằng nhau, đầu ruồi ngang bằng với vai ngắm.

Sự thành công của MP-5 có thể nói là ngoài mong đợi của nhà sản xuất. Những yếu tố của thành công đó là chất lượng cao và độ tin cậy của súng, khả năng bắn phát một chính xác đến khâm phục, rất linh hoạt.





Súng có ba chế độ bắn, bao gồm: an toàn, bán tự động bắn 1 viên, tự động bắn liên tục. Trang bị loại đạn cỡ 10mm (10x25mm) và 40S&W (10x22mm). Tốc độ bắn 800 viên / phút, tốc độ đạn 400 m/s, tầm bắn hiệu quả 25m đến 100m, tầm bắn tối đa 150 m.


HK UMP


UMP (Universale Maschinenpistole) là loại súng tiểu liên được phát triển và chế tạo bởi công ty Heckler & Koch vào khoảng nửa cuối những năm 1990 và được giới thiệu năm 1999. Súng được thiết kế với tiêu chí nhẹ và mạnh nhưng cũng rẻ hơn khẩu MP-5. Các khách hàng chính mà nó nhắm tới khi được sản xuất là các lực lượng thi hành công vụ.





UMP sử dụng cơ chế nạp đạn bằng phản lực bắn và bắn với thoi nạp đạn đóng. Thân súng được làm bằng nhựa tổng hợp để có trọng lượng nhẹ. Nút khóa an toàn cũng là nút chọn chế độ bắn nằm ở cả hai bên thân súng gần hệ thống cò với bốn cơ chế là khóa an toàn, từng viên, 2 hay 3 viên (tùy mẫu) và tự động. Khe nhả vỏ đạn nằm ở phía bên trái súng.

Hệ thống nhắm cơ bản của súng là điểm ruồi nhưng trên thân súng cũng có thanh răng để gắn các hệ thống nhắm khác phù hợp hơn. Hai thanh răng khác nằm ở hai bên thân súng và một nằm ở dưới lớp ốp tay để gắn các thiết bị hỗ trợ khác như đèn pin, hệ thống nhắm laser, tay cầm... Súng bắn loại đạn mạnh hơn các loại súng tiểu liên khác để tăng hỏa lực và khả năng sát thương vì thế nên độ giật sẽ cao hơn, để có thể điều khiển súng trong chế độ bắn tự động tốc độ bắn của súng được giảm xuống so với MP-5. Báng súng có thể gấp sang một bên khi không cần để tiết kiệm không gian. Nòng súng có thể gắn thêm ống hãm thanh.





UMP có chiều dài 450 mm báng gấp / 690 mm báng mở, nặng 2,3-1,65 kg. Sử dụng đạn 9x19mm Parabellum, băng đạn 30 viên hoặc 25 viên tùy phiên bản, tốc độ bắn 600-650 viên/phút và tầm bắn hiệu quả 100m. Hiện nay phiên bản UMP 45 được sử dụng rộng rãi nhất.


Uzi


Uzi là một trong những loại súng tự vệ trang bị cho cá nhân khá nhỏ gọn. Khẩu súng Uzi đầu tiên được thiết kế bởi thiếu tá Uziel Gal - một người Do Thái gốc Đức - vào cuối những năm 1940. Súng được sản xuất bởi Israel Military Industries của Israel, nhà sản xuất FN Herstal của Bỉ, và một số hãng khác theo nhượng quyền. Bản mẫu đầu tiên được chế tạo vào năm 1950 bởi hãng Uziel Gal của Israel. Từ năm 1954, Uzi được đưa vào sử dụng trong quân đội Israel. Trên thế giới, Uzi được trang bị chủ yếu cho các lực lượng cảnh sát, phản ứng nhanh, trong quân đội thường trang bị cho lực lượng đặc biệt và lính tăng, pháo binh.





Với lợi thế như giá thành rẻ, chịu nước tốt, tiện sử dụng mang vác dễ dàng nên Uzi hay được các lực lượng phản ứng nhanh, đặc công, hay các đội biệt kích sử dụng, bên cạnh đó với tầm sát thương hiệu quả trong vòng 200m thì rõ ràng đây là một lợi thế không thể thuận lợi hơn trong các nhiệm vụ chống khủng bố, bắt cóc, tống tiền ở các địa bàn dân cư đông, hay trong khu trung tâm thành phố.





Uzi thường sử dụng loại đạn : 9x19mm Parabellum, .22 LR, .45 ACP, .41 AE. Trọng lượng: 3.5 kg Dài: 650mm hoặc 470 mm Độ dài nòng : 260 mm. Súng có tốc độ bắn 600 viên/phút, tốc độ đạn 400 mét/giây tầm sát thương hiệu quả trong vòng bán kính 200m vì thế nó rất thích hợp cho những nhiệm vụ như chống khủng bố, chống bắt cóc, tống tiền chiến đấu trong địa bàn hẹp như khu dân cư, trung tâm thành phố.


FN P90

FN P90 là một loại súng tiểu liên thuộc loại vũ khí phòng vệ cá nhân được thiết kế bởi nhà sản xuất vũ khí FN Herstal của Bỉ vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Tên của vũ khí là viết tắt của dự án 90 (Project 90), dùng để xác định một hệ thống vũ khí mới cho năm 1990. P90 ban đầu được thiết kế như là một súng cầm tay nhỏ gọn nhưng mạnh mẽ cho những người lái xe, những người điều hành các nhóm phục vụ quân nhu, hỗ trợ nhân viên, lực lượng đặc nhiệm và các đơn vị chống khủng bố.





P90 sử dụng cơ chế nạp đạn bằng phản lực bắn với thoi nạp đạn đóng. Để giảm trong lượng và chiều dài P90 sử dụng thiết kế băng đạn gắn phía sau và khung cùng hầu hết các chi tiết làm bằng nhựa chịu lực. Hộp đạn chứa được 50 viên với hai hàng. Và để súng trở nên nhỏ nhất có thể P90 sử dụng thiết kế đặc hộp đạn nằm dọc trên thân súng với đạn được xếp nằm ngang theo chiều rộng của súng. Hộp đạn có một rãnh xoắn ốc ở đầu để viên đạn theo đó được đẩy xoay 90 độ xuống khoang chứa đạn.

P90 có thiết kế báng súng nhỏ gọn, tay cầm làm bằng polymer và hợp kim gia cố. Vũ khí chứa một số tính năng cải tiến trong đó có băng đạn gắn phía trên và đạn 5.7x28mm còn biết với tên SS90 dành riêng cho loại súng này để có thể tăng khả năng xuyên thủng qua áo giáp hơn đạn của súng ngắn thông thường.




Súng có chiều dài 500mm, cân nặng 2.5kg. Sử dụng đạn 5.7x28mm với hộp đạn 50 viên, tốc độ bắn 900 viên/phút với tầm bắn hiệu quả dưới 200m.

P90 hiện đang được sử dụng trong quân đội và lực lượng cảnh sát tại hơn 40 quốc gia trên toàn thế giới cũng như bởi hơn 200 đơn vị thực thi luật pháp cùng một số lực lượng bí mật tại Hoa Kỳ. Kiểu PS90 dùng trong thể thao này cũng trở nên phổ biến với các xạ thủ là dân thường.

Nguồn : genk.vn

Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

Lịch sử dòng súng AR-15/M-16





- Sau Chiến tranh Triều Tiên, quân đội Mỹ muốn phát triển một dòng súng trường tấn công mới. Đến thời điểm này, Mỹ vẫn chưa có khẩu súng nào đúng nghĩa là súng trường tấn công. Tức là gọn nhẹ, tầm bắn hiệu quả trên 300m, bắn liên thanh cũng được mà bắn phát một cũng được (selective fire). Ngoài ra, lúc này Liên Xô cũ đã trang bị AK-47 từ năm 1949; Châu Âu có FN FAL từ 1953. Còn Mỹ vẫn đang dang dở với những khẩu BAR, định làm súng máy cộng đồng mà băng chỉ có 20 viên; M-14 định làm súng trường xung phong nhưng lại dùng đạn 7,62x51 NATO nặng nề và súng vừa dài (1120 mm) vừa nặng (5,1 kg và 6,6 kg với bản M-14A1). Từ những năm 50-60 gười Mỹ miệt mài tổ chức thi thố, thử nghiệm mãi mà không tìm ra đươc khẩu súng nào xứng đáng để đoạt giải. Không lẽ lại rước hàng Châu Âu về?

- Câu chuyện về M-16 bắt đầu từ năm 1957, tại hãng Armalite, Quân đội Mỹ yêu cầu họ phát triển một khẩu súng bắn đạn 0.222 Reminton. Chàng kỹ sư Eugene Stoner đã thiết kế lại khẩu AR-10 bắn đạn 7,62x51mm NATO để cho ra AR-15. Đạn .222 Reminton và .222 Reminton Hunting được phát triển để cuối cùng trở thành .222 Reminton Speccial đặc biệt. Và sau nhiều thử nghiệm nó biến đổi thành đạn .223 Reminton trước khi được chấp nhận vào trang bị trong Quân đội Mỹ với tên gọi M193. Năm 1958, khẩu súng mới có tên AR-15 được thử nghiệm. Nhưng có vẻ nó không được Quân đội Mỹ thích bằng M-14. Nhắm thấy AR-15 không thắng được M-14, năm 1959, hãng mẹ FairChild của Armalite đã bán tất cả quyền sản xuất, bản quyền, bản vẽ của AR-15 cho Colt. Lúc này Colt đang là nhà thầu thân cận lâu năm với Quân đội Mỹ.

- Nắm được bản quyền của AR-15, Colt tiến hành chiến dịch quảng cáo rầm rộ. Tập trung vào đặc điểm độ chính xác cao của khẩu súng, ít giật, súng nhẹ và thiết kế hiện đại. Đến năm 1962, Cơ quan quản lý các dự án thí nghiệm phát triển của Quân đội Mỹ chấp nhận mua 1000 khẩu AR-15 và gửi sang chiến trường Nam Việt Nam để thử nghiệm. Và cũng vì thế, ở Việt Nam tên gọi AR-15 phổ biến hơn tên gọi M-16. Súng AR-15 là súng trường tấn công hoạt động theo nguyên lý khoá nòng xoay, trích khí để bắn liên thanh. Súng có 3 chế độ bắn: An toàn (safe), bán tự động (semi-auto) bắn viên một, tự động (full-auto). Thước ngắm cơ khí, thước ngắm sau nằm trên quai xách. Băng đạn 20 viên, dạng băng thẳng.

- Đời đầu AR-15 này phân biệt với các đời sau ở chỗ: loa che lửa của súng có hình dạng ba chấu nhọn, chưa có cần chống kẹt đạn và kẹt khoá nòng như các đời sau này. Ốp lót tay hình trụ tam giác và côn dần về phía nòng súng, được lắp lại bởi 2 mảnh 2 bên.

- Năm 1963, sau khi nhận được phản hồi về khẩu súng từ chiến trường Nam Việt Nam, dù rất hay kẹt đạn nhưng Quân đội Mỹ đặt hàng tiếp 85.000 khẩu súng nữa với một chút thay đổi, đặt mã hiệu XM-16E1. Trong lúc đó, Không quân Mỹ đặt hàng 19.000 khẩu M-16, không có gì khác so với khẩu AR-15 cũ. Năm tiếp theo, Không quân Mỹ chấp nhận trang bị súng M-16. Và năm tiếp theo đó, quân đội Mỹ chấp nhận mẫu thử XM-16E1. Đến năm 1966 thì Colt nhận được thương vụ chính thức đầu tiên của dòng AR-15/M-16 với 840.000 khẩu. Và súng được đặt tên chính thức M-16A1 trong Quân đội Mỹ.

- Khẩu súng M-16A1 được cải tiến hơn đời trước ở chỗ nó có cần chống kẹt khoá nòng, nằm ngay phía dưới cần lên đạn và bên trái khoá nòng (hình trên). Súng cũng được thay loa che lửa mới kiểu "tổ chim" (bird net), với 4 rãnh, 4 chấu chứ không phải 3 chấu như trước. Đến khoảng năm 1970, Colt giới thiệu băng cong 30 viên nhằm đối chọi lại với băng 30 viên của AK-47.

- Đến năm 1977-1979, do hiệp ước giữa các nước thuộc khối NATO, có một cuộc thi chọn ra loại đạn chung cho Khối này được tổ chức. Không khó khăn để đạn 0.223 (5,56x45) của Mỹ đoạt giải. Nhưng Châu Âu không chấp nhận đạn M193 của Mỹ, nên giải pháp trung tính là chọn đạn SS-109 của Bỉ và đặt tên là M-855. Kích cỡ đạn vẫn là 5,56x45mm nhưng thuốc phóng, thuật phóng khác. Vì vậy, năm 1981, Quân đội Mỹ đưa ra yêu cầu thay đổi súng cho phù hợp với đạn. Colt đưa ra khẩu súng với rãnh xoắn gấp hơn 1:7 với mã thử nghiệm M-16A1E1. Khẩu súng còn thay chế độ hoàn toàn tự động (full-auto) bằng chế độ điểm xạ 3 viên 1 (burst-3-per-shot) để tránh việc xả đạn ào ào của khẩu súng "cực nhanh". Đến năm 1982, khẩu súng chính thức được chấp nhận với tên gọi M-16A2.

- Khẩu súng có những điểm cơ bản khác đời trước là: Ốp lót tay hình trụ tam giác, côn dần về nòng súng, tạo bởi 2 mảnh có thể lắp lẫn trên-dưới. Quai xách vẫn gắn liền với nắp máy súng nhưng đã có thêm nút điều chỉnh thước ngắm. Loa che lửa vẫn giống M-16A1. Nhưng có thêm mấu chỉnh hướng xả vỏ đạn, nhằm hất vỏ về phía trước, phục vụ cho xạ thủ thuận tay trái.
- Đến giữa những năm 1990, theo yêu cầu của các lực lượng đặc biệt, dựa vào ý tưởng của những khẩu Colt Commando những năm 196x, Colt đưa ra khẩu M-4, là M-16A2 cắt ngắn nòng, đẩy lùi cửa trích khí về phía về phía sau. M-4 chính là M-16A2 chấp nhận mất tầm bắn hiệu quả để làm gọn nhẹ súng.

- Với ý tưởng về tính tiện dụng của hệ ray Picatinny trên súng, thuận theo tác chiến trong chiến tranh hiện đại, người lính cần được hỗ trợ tối đa và được tuỳ biến vũ khí theo nhiệm vụ. Đến năm 1996, một mẫu súng M-16 mới ra đời nhằm tích hợp hệ ray Picatinny vào. Đời M-16A3 quay trở lại với chế độ tự động hoàn toàn (full-auto); còn M-16A4 thì vẫn giữ chế độ điểm xạ 2 viên (burst).

- Hai đời súng này khác với đời trước ở: nắp máy súng phẳng, có gắn ray Picatinny. Ốp lót tay hình trụ tròn, nhưng không còn côn như đời M-16A2, mà là hình trụ tròn đều để khi lắp ray lên ốp lót thi không bị nghiêng dốc ray. Đảm bảo khi lắp thiết bị không bị chúi thiết bị. Loa che lửa của đời A3/A4 là loa dạng tổ chim "bird net", nhưng gồm 5 khe, 5 chấu.

- Ăn theo M-16A3/4, khẩu M-4 cũng được chuẩn hoá ray Picatinny thành M-4A1 và chế độ bắn bỏ điểm xạ 3 viên một (burst) thành tự động (full-auto). Vì bắn trong thành phố, bắn ở phạm vi hẹp thì tốc độ bắn cần hơn.

- Khẩu súng AR-15/M-16 đã "sinh ra" ở Mỹ, "lớn lên" ở Việt Nam, có thể nói như vậy, và "trưởng thành" ở Kosovo, Iraq, Afghanistan... như vậy đó các bạn ạ. Quân giới Sư đoàn xin chúc các bạn một buổi tối vui vẻ.

-Ct-Xem thêm



- Từ trên xuống dưới, ta thấy khẩu CAR-15 (Carbine Assault Rifle 15), khẩu súng ra đời năm 1965. Như đã nói ở bài trước, khẩu súng CAR-15 chỉ đơn giản là khẩu AR-15/M-16A1 cắt ngắn nòng (cắt từ 20 inches xuống còn 10 inches), cắt báng (cắ...t ngắn 3 inches). Khẩu súng giữ nguyên ốp lót tay hình trụ tam giác như bản AR-15/M-16A1, loa che lửa (muzzle) cũng giữ nguyên hình dạng như AR-15/M-16A1. Máy súng vẫn giữ nguyên kiểu A1 (A1 style) đời đầu, chưa có chế độ bắn loạt 3 viên (burst-3-shot), chỉ có chế độ tự động (full auto).Xem thêm

- Sau quá trình thử nghiệm, Không lực Mỹ (US AirForce) muốn có một khẩu carbine trang bị cho phi công trực thăng, nên Colt phát triển phiên bản CAR-15 Air Force Survival Rifle (CAR-15 súng trường tự vệ cho Không quân). Phiên bản này, có ốp lót tay hình trụ tròn, báng súng hình trụ tròn, có thể thay đổi chiều dài báng, tay cầm súng ngắn (piston grip) cũng bị cắt ngắn vì vài lí do. Vẫn sử dụng máy súng kiểu A1.

- Nhưng, lực lượng biệt kích phàn nàn vì súng CAR-15 quá giật so với M-16A1, lửa đầu nòng phụt ra như thuồng luồng giải trạch. Đột kích buổi đêm, bị lộ hết vị trí. Nên Colt đưa ra thêm cái loa che lửa dài hơn (4.5 inches), vừa làm nhiệm v...ụ che lửa, vừa bù giật, vừa giảm thanh, (từ gốc tiếng Anh là "moderator" chứ không phải là "muzzle") thay cái loa che lửa kiểu 3 ngạnh của AR-15. Việc này nguyên do là đạn M193 của M-16A1 được thiết kế cho súng có chiều dài nòng 20 inches nên khi dùng cho súng có nòng 10 inches thì thuốc súng còn thừa cháy ngoài nòng làm lửa thừa phè ra mỏ hàn ga ôxy, trong đêm như là đèn báo hiệu cho địch dập vào. (Lôi Hổ, Biệt cách dù không thích điều này).Xem thêm

- Sau một thời gian thử nghiệm, Colt ghi nhận rằng XM-177E1 vẫn bất lợi do lửa đầu nòng phụt ra quá dài, súng lại giật hơn do thuốc súng thừa vẫn còn cháy ngoài đầu nòng. Dù rằng cái loa che lửa đầu nòng đã được thiết kế riêng cho dòng sú...ng này nhưng vẫn không giải quyết được triệt để vấn đề. Nên phiên bản sửa đổi với mã XM-177E2 được đưa ra điều chỉnh với chiều dài nòng tăng thêm 1.5 inches, loa che lửa vẫn giữ nguyên. Ở XM-177E2, ở nòng súng còn được bổ sung thêm cái khuyên - nhẫn giữ giá treo ống phóng lựu cá nhân M-203 (từ nguyên gốc tiếng Anh "Generade Ring"). Cái khuyên này không có ở bản XM-177E1.

- Là bản thử nghiệm, vì mang tiền tố X ở đầu như XM-8 chẳng hạn, nên XM-177E1/2 chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, nó chỉ đóng vai trò một vai trò trong lịch sử của dòng súng AR-15/M-16. Sau đó, với thiết kế chiều dài nòng không phù hợp với dòng đạn .223 Reminton dùng chung với súng AR-15/M-16 nên súng không được sử dụng rộng rãi. Từ sau những năm 1970, dự án được xếp xó và chỉ đến những năm 1990, khi quân đội Mỹ cần một khẩu súng có hoả lực mạnh hơn M9 (Berretta) và nhỏ gọn, dễ mang vác hơn M-16A2 thì M-4 mới được ra đời dựa vào ý tưởng cũ, ý tưởng của dự án XM-177. Lúc này, Mỹ cũng như NATO đã chuyển sang dùng đạn M-855, vốn là đạn SS-109 của Bỉ, nay được chuẩn hoá cho khối NATO, thay thế cho M193. Đạn vẫn có kích cỡ 5,56x45mm nhưng sử dụng thuật phóng khác, thuốc phóng khác nên phù hợp với M-4/M-4A1 hơn M193 với XM-177 ngày xưa.Xem thêm

- Vì thế mà sinh ra M-4.